Tiêu điểm
Phân tích
Bộ Công an lại vướng vào nghi án bắt cóc quốc tế
Đặng Đình Mạnh, 29/09/2026
Bên cạnh việc "chụp mũ", cáo buộc phi lý tội danh khủng bố tày trời cho người không có hành vi khủng bố thông qua việc bắt giữ, khởi tố 3 thành viên tổ chức Việt Tân, Bộ Công an Việt Nam còn vướng vào nghi án khác, thậm chí có thể còn quan trọng hơn.
Ông Hồ Phạm Hiệp Huy, còn gọi là Trần Hiệp (trái) và ông Nguyễn Đức Thuận
Ngày 25/09/2026, tổ chức Việt Tân công bố rằng hai thành viên của họ gồm Nguyễn Đức Thuận và Hồ Phạm Hiệp Huy đã mất tích tại Cambodia từ ngày 18/9. Theo thông báo của tổ chức này, cả hai đến Phnom Penh ngày 15/9, dự kiến trở lại Bangkok ngày 19/9. Nhưng thực tế, cả hai đã không lên chuyến bay và cũng không yêu cầu hãng bay đổi hoặc hủy vé dù vắng mặt…
Gia đình và Việt Tân cho biết họ đã liên hệ với giới chức Na Uy, Úc và các cơ quan ngoại giao liên quan để tìm tung tích hai người.
Ba ngày sau, ngày 28/9, Bộ Công an ra Thông báo rằng các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn đã bị bắt lúc 21 giờ 50 ngày 18/9, khi đang vượt biên trái phép từ Cambodia vào Việt Nam.
Hai thông tin này đặt cạnh nhau tạo ra một khoảng cách mà cơ quan chức năng cần phải giải thích bằng chứng cứ, chứ không thể chỉ bằng thông báo. Vì lẽ, Việt Tân cho rằng hai người mất tích tại Cambodia, nhưng Bộ Công an lại thông báo rằng họ bị bắt khi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.
Nếu một bên nói họ biến mất ở Cambodia và bên kia nói họ bị bắt tại biên giới Việt - Cam, thì câu hỏi rất đơn giản là : Họ đã đi từ Phnom Penh đến địa điểm xã Mỹ Quý Tây, Tây Ninh bằng cách nào ? Vào thời điểm nào ? Và dưới sự kiểm soát của ai ?
Đặc biệt, Việt Tân, từ ngày 28 đã công khai cáo buộc rằng hai thành viên của họ bị bắt cóc tại Cambodia rồi bị đưa về Việt Nam, đồng thời bác bỏ thông tin họ chủ động tìm cách nhập cảnh Việt Nam. Đây là cáo buộc của Việt Tân, tuy chưa phải một sự kiện đã được xác nhận. Nhưng đó là một cáo buộc đủ nghiêm trọng để không thể bỏ qua, nhất là khi đặt nó trong bối cảnh khu vực đã từng xuất hiện những vụ việc tương tự và bản thân Bộ Công an cũng từng là đối tượng bị cáo buộc các hành vi tương tự.
Chưa kể rằng, với thông hành hợp pháp từ chính phủ Na Uy và Úc cấp, họ có thể đường hoàng nhập cảnh hợp pháp qua cửa khẩu quốc tế vào lãnh thổ Việt Nam. Thế thì tại sao họ phải cất công sử dụng giấy tờ giả đầy rủi ro và nguy hiểm để vượt biên vào Việt Nam ?
Tiền lệ bắt cóc quốc tế đáng chú ý nhất là vụ Trịnh Xuân Thanh. Năm 2017, ông Thanh biến mất tại Berlin và giới chức Đức đã chính thức kết luận rằng ông bị bắt cóc đưa về Việt Nam. Bộ Ngoại giao Đức khi đó tuyên bố có "bằng chứng ngày càng nhiều" và không còn lý do hợp lý để nghi ngờ sự tham gia của các cơ quan Việt Nam và Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin ; một người liên quan sau đó bị tòa án Đức kết án vì vai trò trong vụ bắt cóc (Auswärtiges Amt).
Năm 2017, ông Trịnh Xuân Thanh biến mất tại Berlin và giới chức Đức đã chính thức kết luận rằng ông bị bắt cóc đưa về Việt Nam.
Trường hợp ký giả Trương Duy Nhất cũng đặt ra một câu hỏi tương tự. Nhóm Công tác của Liên Hiệp Quốc về Các vụ Mất tích Cưỡng bức hoặc Không tự nguyện ghi nhận cáo buộc ông Nhất bị bắt tại Bangkok và sau đó được đưa về Việt Nam. Amnesty International và các tổ chức nhân quyền cũng kêu gọi điều tra các báo cáo về vụ bắt cóc (OHCHR).
Không chỉ vậy, tác giả bài viết này, khi thực hiện trách vụ luật sư bào chữa cho ông Trương Duy Nhất cũng đã từng nghe chính ông xác nhận việc bị an ninh Việt Nam bắt cóc từ Bangkok đưa về Việt Nam.
Đường Văn Thái, người mất tích tại Bangkok năm 2023, lại cho thấy một điểm đặc biệt đáng chú ý đối với vụ án hiện nay. Sau khi ông Thái mất tích, phía Việt Nam thông báo một người cùng tên bị phát hiện khi "xâm nhập trái phép" vào Việt Nam qua khu vực biên giới Hà Tĩnh.
Ông Đường Văn Thái bị mất tích tại Bangkok năm 2023 và được đưa vào Việt Nam qua cửa khẩu Hà Tĩnh
Những người quen biết ông Thái bác bỏ khả năng ông tự nguyện trở về. Về sau, Human Rights Watch cho biết họ đã xem được video cho thấy một nhóm người cưỡng ép ông Thái lên xe tại Thái Lan, trong khi phía Việt Nam trước đó nói ông bị bắt khi tìm cách nhập cảnh trái phép. Một tài liệu của các chuyên gia đặc biệt thuộc Liên Hiệp Quốc cũng ghi nhận cáo buộc ông Thái bị bắt cóc tại Bangkok và cưỡng bức đưa về Việt Nam. (Human Rights Watch)
Ba vụ bắt cóc kể trên chỉ mới là phần nổi của tảng băng chìm bên dưới, vì vẫn còn khá nhiều vụ bắt cóc người tương tự do Bộ Công an Việt Nam thực hiện trên lãnh thổ Lào, Cambodia và cả Thái Lan. Vì lẽ, các quốc gia này và Việt Nam đều tồn tại việc đàn áp bất đồng chính kiến, khiến họ phải lạm lánh sang các quốc gia láng giềng. Thế nên, nhà cầm quyền của bốn quốc gia này đã âm thầm dùng việc trao trả người bất đồng chính kiến như một đường lối đối ngoại "Có đi, có lại" với nhau.
Thông qua trình bày trên, tuy chưa cho phép kết luận rằng ba ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn cũng đã bị bắt cóc. Nhất là khi chưa có bằng chứng công khai như vậy ở thời điểm này mà chỉ mới dựa vào sụy suy đoán hợp lý.
Hơn nữa, thông cáo của Việt Tân về việc mất tích tại Cambodia mới xác định rõ Nguyễn Đức Thuận và Hồ Phạm Hiệp Huy ; Chưa có cùng mức thông tin công khai về hành trình của Thái Công Trường Sơn. Vì vậy, nói cả ba người đã bị bắt cóc sẽ đi hơi xa so với những gì hiện có thể chứng minh.
Nhưng chính vì đã có những tiền lệ bắt cóc nghiêm trọng như nêu trên do Bộ Công an là tác giả, nghi vấn lần này cần được điều tra độc lập thay vì bị gạt sang một bên. Nếu ba người thực sự bị bắt ngay tại biên giới Việt - Cam sau khi tự mình vượt biên, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể chứng minh điều đó bằng những thứ rất cụ thể : Hình ảnh camera, dữ liệu điện thoại, định vị, lời khai của nhân chứng, dữ liệu xuất nhập cảnh, thời điểm họ rời Phnom Penh, phương tiện họ sử dụng, người đi cùng, và đặc biệt là bằng chứng về địa điểm bắt giữ.
Ngược lại, nếu họ đã mất tích tại Cambodia trước thời điểm Bộ Công an nói họ bị bắt, thì câu hỏi về việc họ xuất hiện tại Việt Nam cũng phải được làm sáng tỏ.
Đây không phải là một câu hỏi phụ. Nó liên quan trực tiếp đến tính hợp pháp của toàn bộ vụ án. Bởi nếu quá trình đưa một người từ nước ngoài về Việt Nam đã có vấn đề, thì sau đó việc dựng lại câu chuyện rằng người ấy "tự mình nhập cảnh trái phép" rồi mới bị bắt giữ sẽ tạo ra một vấn đề pháp lý hoàn toàn khác.
Và đây cũng là lý do vụ án bắt giữ, khởi tố hình sự các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không nên chỉ được nhìn qua một dòng chữ "khởi tố về tội khủng bố". Bởi lẽ, có ít nhất hai câu hỏi cần được trả lời song song : Họ đã thực sự làm gì ? Và họ đã thực sự được đưa vào Việt Nam bằng cách nào ?
Nếu câu hỏi thứ nhất chỉ được trả lời bằng việc họ là thành viên Việt Tân, còn câu hỏi thứ hai chỉ được trả lời bằng một thông báo nói họ bị bắt khi vượt biên, thì công chúng vẫn còn thiếu những chứng cứ quan trọng nhất để thuyết phục.
Một chính quyền có thẩm quyền bảo vệ an ninh quốc gia và xử lý hành vi khủng bố. Nhưng chính vì khủng bố là một cáo buộc đặc biệt nghiêm trọng, tiêu chuẩn chứng minh càng không thể thấp hơn. Cũng vậy, một chính quyền có quyền kiểm soát biên giới, nhưng quyền lực ấy không thể biến "bắt cóc" thành "vượt biên", cũng không biến một vụ bắt cóc thành một vụ bắt giữ hợp pháp chỉ bằng cách thay đổi cách gọi.
Sau cùng, điều công chúng cần không phải là một cuộc tranh cãi xem ai có cái lý thuyết phục hơn. Điều cần là chứng cứ. Bản thân chứng cứ là bằng chứng thuyết phục.
Dĩ nhiên, cáo buộc khủng bố phải được chứng minh bằng hành vi và chứng cứ. Tương tự vậy, việc ba người từ nước ngoài xuất hiện trong tay cơ quan an ninh Việt Nam cũng phải được chứng minh bằng một quá trình bắt giữ minh bạch, hợp pháp. Không thể tùy tiện dùng một cái nhãn để thay thế cho hành vi, và càng không thể dùng một thông báo để thay thế cho sự thật.
Với độc giả, bạn tin điều gì là sự thật trong vụ 3 người Việt đang bị an ninh giam giữ hiện nay ? Bắt cóc hay bắt giữ ?
Hoa Thịnh Đốn, ngày 29/09/2026
Đặng Đình Mạnh
Nguồn : fb.manhdang001, 29/09/2026
********************************
Tại sao bị cáo buộc khủng bố dù không có khủng bố ?
Đặng Đình Mạnh, 28/09/2026
Đặt mìn, đánh bom, phá hoại công trình công cộng, giết người, gây thương tích hàng loạt, bắt cóc con tin… với mục tiêu gieo rắc sự sợ hãi, hoặc gởi các thông điệp chính trị, tôn giáo, hay chủng tộc… đều có thể là hành vi khủng bố theo cách hiểu thông thường của công chúng.
Ông Nguyễn Đức Thuận (trái) và ông Trần Hiệp (Hồ Phạm Hiệp Huy). (Hình : Đảng Việt Tân)
Vì vậy, khi nghe thông báo bắt giữ, khởi tố hình sự ba người về tội "khủng bố", câu hỏi tự nhiên nhất của công chúng phải là : Họ đã làm gì ?
Ngày 28/09/2026, Bộ Công an thông báo khởi tố các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn về tội "Khủng bố" theo Điều 299 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, cũng khởi tố về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Theo nội dung thông báo này, ba người đã bị Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây, Tây Ninh bắt giữ khi đang "nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ biên giới Cambodia".
Vẫn theo bản tin Bộ Công an, họ bị cho rằng mang giấy tờ giả và trong quá trình điều tra đã "khai nhận" là thành viên Việt Tân.
Nhưng chính ở đây, câu chuyện bắt đầu có một khoảng trống đáng chú ý. Thông báo của Bộ Công an không mô tả được một hành vi khủng bố cụ thể nào mà ba người này đã thực hiện. Không có quả mìn, hay bom đạn nào được nói đến, không có vụ nổ súng, không có con tin, không có vụ sát hại, cũng không có một công trình nào được xác định là mục tiêu phá hoại. Điều được công bố là họ bị cáo buộc mang giấy tờ giả, nhập cảnh trái phép và là thành viên Việt Tân mà thôi.
Chắc chắn rằng, sau khi bị bắt giữ từ nhiều ngày trước đó, nếu ba người bị bắt giữ đã khai nhận việc thực hiện các hành vi khủng bố, hoặc có chứng cứ xác đáng về việc khủng bố, thì chúng sẽ được truyền thông của nhà cầm quyền đưa ngay lên trang nhất với hàng tít in đậm.
Thế nhưng, dòng tin lại hết sức ngắn ngủi, vắn tắt và không có chi tiết nào về hành vi khủng bố cả.
Chính điều này đã cho thấy một khoảng trắng mênh mông về cái gọi là "chứng cứ" cáo buộc họ về tội danh khủng bố. Nếu không muốn nói rõ rằng, không có chứng cứ gì về việc khủng bố cả.
Vấn đề nằm ở chỗ ý chí của Đảng cộng sản, rằng muốn bỏ tù ai thì "chụp mũ" tội phạm cho họ, bất kể họ có thực hiện những hành vi tội phạm hay không ? Tội danh khủng bố hiện thời tồn tại trong Bộ luật Hình sự đã là cách thức "chụp mũ" như vậy.
Theo đó, Điều 299 về tội danh "Khủng bố" không chỉ liên quan đến những hành vi bạo lực theo cách công chúng thường hình dung về hành vi khủng bố, mà còn bao gồm hành vi "thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố".
Bằng cách thức đưa vào điều luật văn thức tổng quát, mơ hồ như vậy, thì dù một người không có ý định hoặc thực tế đặt bom hay nổ súng không đồng nghĩa với khả năng người đó không bị cáo buộc về tội danh khủng bố.
Đây là sự khác biệt quan trọng giữa khái niệm "khủng bố" trong luật pháp của các quốc gia văn minh trên thế giới và phạm vi của một điều luật hình sự cụ thể theo cách duy ý chí của Đảng cộng sản Việt Nam.
Tựu trung, việc cáo buộc tội danh khủng bố đối với một người thực hiện theo tam đoạn luận như sau :
- Tổ chức Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (tổ chức Việt Tân) bị Bộ Công an xếp vào tổ chức khủng bố ;
- Các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn là thành viên tổ chức Việt Tân.
- Vậy, họ là kẻ phạm tội khủng bố, nên phải bị khởi tố.
Cho thấy, chính yếu tố THAM GIA tổ chức Việt Tân đã trở thành cơ sở cho việc họ bị khởi tố hình sự.
Sự cáo buộc phi lý này tồn tại mặc cho thực tế trái ngược rằng :
- Việt Tân đã bị một cơ quan thuộc Chính phủ là Bộ Công an quy kết là tổ chức khủng bố chứ không phải do một phán quyết từ tòa án. Cho dù, tòa án mới là thực thể tư pháp có thẩm quyền phán quyết về tội phạm, chứ không phải một cơ quan thuộc nhánh hành pháp như Bộ Công an.
- Bản thân Việt Tân đã chính thức, công khai minh thị về chủ trương đấu tranh chính trị bằng phương thức hòa bình và phi bạo lực. Trong thực tế, cả ba người bị bắt giữ gồm các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn cũng không có hành vi khủng bố nào cả.
- Mặc dù Việt Tân bị xem là tổ chức khủng bố tại Việt Nam, thế nhưng, đây lại là một tổ chức chính trị đã hoạt động chính thức và công khai tại Hoa Kỳ trong hơn bốn thập niên qua.
Công chúng thừa biết rằng, Hoa Kỳ là một quốc gia đã từng là nạn nhân cũng nạn khủng bố quốc tế, và cũng là quốc gia hàng đầu chống khủng bố quốc tế. Nếu Việt Tân thật sự là một tổ chức khủng bố như quy kết vô cớ của Bộ Công an Việt Nam, chắc chắn, họ không có cơ sở để tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ như một pháp nhân hợp pháp.
Tóm lại, từ một thông báo vắn tắt về việc khởi tố tội danh "khủng bố" đối với ba cá nhân về nghi án nhập cảnh trái phép, vụ án đã phơi bày một nghịch lý mang tính hệ thống trong cách vận dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam. Trong đó, lằn ranh giữa hành vi bạo lực thực tế và sự quy chụp chính trị bị xóa nhòa, điều luật hình sự không còn đóng vai trò bảo vệ trật tự xã hội, mà trở thành công cụ để hình sự hóa bất đồng chính kiến.
Việc biến một tổ chức hoạt động hợp pháp công khai ở nước ngoài thành danh xưng "khủng bố" dựa trên quyết định một chiều, đồng thời khép tội công dân chỉ vì sự liên đới tổ chức thay vì hành vi phạm tội cụ thể, đã đặt nghi vấn lớn về tính chính đáng, minh bạch và thượng tôn pháp luật.
Xét đến cùng, việc lạm dụng các tội danh nghiêm trọng như khủng bố không chỉ làm xói mòn giá trị công lý, mà còn bộc lộ sự phi lý, bất công của khung pháp lý khi nó được vận hành theo sự duy ý chí chính trị độc tài, thay vì là chứng cứ rõ ràng và cần thiết trong một vụ án hình sự.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 28/09/2026
Đặng Đình Mạnh
Nguồn : fb.manhdang001, 28/09/2026