Tiêu điểm
Phân tích
Những dấu hỏi trong quyết tâm thí điểm chủ nghĩa xã hội của ông Tô Lâm
BBC, 05/06/2026
Triển khai thí điểm xã, phường xã hội chủ nghĩa, kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào năm 2045 : Thấy gì từ định hướng của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ?
Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết tâm triển khai mô hình xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn quốc, sau khi đã triển khai ở miền Bắc trước đó.
Từ quyết tâm ấy, Việt Nam đã thực hiện cải tạo công thương, quốc hữu hóa doanh nghiệp tư nhân, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp với ý chí tiến nhanh lên xã hội chủ nghĩa.
Chính sách này đã thất bại trên thực tế, gây ra cuộc khủng hoảng toàn diện vào thập niên 1980.
Hệ quả là, khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng ở trong nước, cùng với các khủng hoảng sâu sắc trong khối xã hội chủ nghĩa trên thế giới – bao gồm các cuộc chiến với Khmer Đỏ, với Trung Quốc, những dịch chuyển dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu – đã đẩy giới lãnh đạo Việt Nam vào tình thế "đổi mới hay là chết".
Chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hợp tác xã "cha chung không ai khóc" đã được Đảng cộng sản Việt Nam đánh giá lại, thừa nhận là sản phẩm của thời kỳ "duy ý chí", nên đã bãi bỏ.
Từ đó, chính sách Đổi mới ra đời.
'Tư bản hóa'
Bắt đầu từ chủ trương Đổi mới cách đây 40 năm, Việt Nam đã chọn hướng đi thực dụng và gần với chủ nghĩa tư bản hơn – công nhận nền kinh tế đa thành phần, mở cửa làm ăn với thế giới.
Dù các nhà lý luận của Đảng vẫn giữ niềm tin sắt đá về định hướng xã hội chủ nghĩa, bằng cách đưa vào hiến pháp cái đuôi "định hướng xã hội chủ nghĩa" cho nền kinh tế thị trường và bảo lưu quy định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực tế là càng về sau chính quyền càng mạnh dạn hơn trong việc khuyến khích kinh tế tư nhân, mà Nghị quyết số 68 năm 2025 của Bộ Chính trị là bước đi mới nhất.
Xu hướng "tư bản hóa" tại Việt Nam mạnh mẽ đến mức nhiều kinh tế gia nổi tiếng thế giới nhận định rằng về bản chất, Việt Nam có nền kinh tế tư bản, dù Đảng cộng sản không chính thức thừa nhận.
Sử gia, kinh tế gia người Đức Rainer Zitelmann trong bài báo How Capitalism Beat Communism in Vietnam (Chủ nghĩa tư bản đã đánh bại chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam như thế nào, năm 2024) đã chỉ ra rằng dù về chính trị, Việt Nam vẫn giữ đường lối xã hội chủ nghĩa, thì nền kinh tế Việt Nam về bản chất đã chuyển hóa thành tư bản.
Trong bối cảnh đó, ông Tô Lâm bày tỏ quyết tâm đưa mô hình xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn và đặt ra thời hạn năm 2045 cho việc hoàn tất thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trở nên đặc biệt đáng chú ý.
Đây là lần đầu tiên kể từ Đổi mới có một nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng đưa ra một thời hạn cụ thể như vậy.
Người tiền nhiệm của ông Tô Lâm, ông Nguyễn Phú Trọng, vào năm 2013 còn băn khoăn : "Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa".
So sánh phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng và ông Tô Lâm, có thể thấy vị lãnh đạo hiện nay có một quyết tâm chính trị rõ ràng và cụ thể hơn.
Không chỉ nêu định hướng chung, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm còn gợi ý – về thực chất là chỉ đạo – rằng cần triển khai xây dựng thí điểm mô hình xã hội chủ nghĩa ở cấp phường, xã.
Tại buổi tiếp xúc cử tri Thành phố Hà Nội vào ngày 4/5, ông Tô Lâm đã cụ thể hóa ý tưởng của mình bằng gợi ý "có thể chọn điểm xây một phường mới với quy mô dân số 500.000 - 1 triệu người và ưu tiên những gì tốt nhất cho nơi đây".
Theo ông, với tốc độ phát triển như hiện nay, không khó để thủ đô của Việt Nam thí điểm và làm được mô hình xã phường xã hội chủ nghĩa.
Ngay lập tức, truyền thông Việt Nam đã đồng loạt lên bài ca ngợi ý tưởng của ông Tô Lâm và dường như đã kích hoạt một phong trào thi đua, phấn đấu trên phạm vi toàn quốc, khi có thêm các địa phương, tỉnh thành khác cũng đã đề ra kế hoạch triển khai thí điểm mô hình xã hội chủ nghĩa.
Báo Hà Nội Mới khẳng định mô hình thí điểm ở cấp xã phường "hiện thực hóa khát vọng phát triển từ cấp cơ sở", trong khi báo Công Thương, cơ quan ngôn luận của Bộ Công thương, có bài viết Hướng tới mô hình phát triển vì người dân, trong đó khẳng định việc xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa là "hướng tới mô hình phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng sống người dân".
Tới ngày 21/5, Chủ tịch Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết thành phố sẽ chọn hai xã cạnh nhau với quy mô dân số khoảng 700.000 để thí điểm mô hình xã phường xã hội chủ nghĩa.
Ông Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm "xã, phường xã hội chủ nghĩa với quy mô từ 500.000 – 1 triệu dân
'Quy mô thí điểm lớn'
Sau các thay đổi về hành chính trong năm qua, thành phố Hà Nội có 51 phường và 75 xã, với tổng dân số khoảng 8,8 triệu người.
Các phường có số dân đông nhất là Hà Đông và Tương Mai có lần lượt 185.205 và 136.292 dân, còn xã đông dân nhất là Đông Anh với 118.183 dân. Những xã phường thấp nhất có chưa tới 40.000 dân.
Có thể thấy, quy mô về dân số của các xã phường hiện tại thấp hơn nhiều so với quy mô trong mô hình thí điểm mà ông Tô Lâm đưa ra. Để thực hiện thí điểm xã phường xã hội chủ nghĩa, với quy mô dân số khoảng 700.000, Hà Nội có thể sẽ phải gộp nhiều đơn vị hiện tại lại.
Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, Giáo sư Stephen B. Young, Giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism có trụ sở ở Mỹ, đánh giá con số từ 500.000 tới 1 triệu người là rất lớn.
"Tôi không chắc một đơn vị bấy nhiêu đó người làm sao mà làm một thí nghiệm cho một mô hình xã hội chủ nghĩa thành công được", ông Young băn khoăn.
Giáo sư Young, người từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, chia sẻ kinh nghiệm ngày trước khi ông tham gia tổ chức các mô hình thí điểm ở nông thôn miền Nam.
"Tôi nhớ hồi đó dân số mỗi xã từ 15.000 – 25.000 người là nhiều lắm rồi, có xã nhỏ chỉ có 2.000 - 3.000 người", ông nói.
Theo ông, một đơn vị cấp cơ sở nhỏ sẽ dễ triển khai và sẽ đóng vai trò như hạt nhân, từ đó nếu cho ra "trái ngọt" thì có thể nhân rộng.
Giáo sư Adam Fforde từ Đại học Victoria, Úc nói với BBC News Tiếng Việt rằng nếu xây dựng một xã, phường 500.000 người "thì bằng 50 xã", thành ra "lại trở thành một cái huyện mới".
Ông Fforde là một nhà nghiên cứu về Việt Nam, đang viết cuốn sách The Vietnamese Economic Miracle (tạm dịch : Phép màu kinh tế Việt Nam). Ông từng đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu vào những năm 1980-1990 và từng làm cố vấn cho văn phòng SIDA (Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển) tại Đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội giai đoạn 1989-1992.
Giáo sư Stephen B. Young (bìa phải) làm việc với đơn vị cơ sở ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1968-1972
'Lớp vỏ bên ngoài'
Theo Giáo sư Fforde, việc gọi mô hình thí điểm là xã, phường xã hội chủ nghĩa chỉ là lớp áo, lớp vỏ bên ngoài.
Theo ông, những kinh nghiệm về xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam cho thấy đây là hướng đi "không có lợi".
"Sau khi Việt Nam đã thôi chế độ kế hoạch hóa tập trung và hợp tác xã bắt buộc, chuyển qua áp dụng cách phát triển có thể gọi là chủ nghĩa tư bản thì đã không còn quan hệ nhiều với quá khứ đó", ông lập luận.
Vì vậy, vị giáo sư từng làm luận án tiến sĩ với đề tài về hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hồi đầu những năm 1980 cho rằng sử dụng cụm từ "xã hội chủ nghĩa" cho các dự án mới là "không được hay".
"Bây giờ thì ông Tô Lâm bắt đầu thực hiện điều mà chúng ta chưa biết cụ thể là gì, mà ông ấy gọi là xã, phường xã hội chủ nghĩa, nhưng theo tôi đó chỉ là cái vỏ, cái áo thôi", ông nhận định.
Nhà nghiên cứu này cho rằng những phong trào như vậy đã có từ lâu, đề ra mục tiêu xã hội ổn định, trẻ em được đi học, đường phố sạch sẽ... "nhưng người ta không biết thêm gì ngoài cái áo đó".
Giáo sư Adam Fforde (áo thun xanh) nghiên cứu ở Việt Nam vào năm 1988
Ngày 5/5, chỉ một ngày sau khi ông Tô Lâm gợi ý xây thử xã, phường xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng đã chủ trì phiên họp thường kỳ tháng Năm của chính quyền thành phố, trong đó nội dung dự thảo thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với 54 tiêu chí.
Các tiêu chí này bao trùm các lĩnh vực từ kinh tế, việc làm, thu nhập, hạ tầng, y tế, giáo dục, môi trường đến chuyển đổi số và mức độ tham gia của người dân.
Đưa tin về cuộc họp, Thông tấn xã Việt Nam viết rằng khái niệm "xã, phường xã hội chủ nghĩa" được xác định là mô hình tổ chức phát triển và quản trị tích hợp ở cấp cơ sở, trong đó xã, phường không chỉ thực hiện chức năng hành chính mà còn là đơn vị trực tiếp chuyển hóa các mục tiêu, giá trị và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội thành kết quả phát triển cụ thể trên địa bàn.
Dự thảo Đề án xây dựng 8 nội dung cốt lõi, gồm :
- Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ;
- Phát triển hạ tầng hiện đại và không gian sống thông minh ;
- Phát triển kinh tế gắn với lực lượng sản xuất hiện đại ;
- Bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bao trùm ;
- Phát triển văn hóa, con người Hà Nội thanh lịch, văn minh ;
- Xây dựng môi trường sống xanh, an toàn và bền vững ;
- Bảo đảm quốc phòng, an ninh ;
- Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ngoài ra, dự thảo đề án bổ sung hai tiêu chí tổng hợp quan trọng là chỉ số hạnh phúc và mức độ hài lòng chung của người dân, song chưa có thông tin cụ thể là "đo như thế nào".
Có thể thấy các tiêu chí "tuổi thọ trung bình", "số năm sống khỏe" trong nhóm về văn hóa, con người hay "thu nhập bình quân" trong nhóm phát triển kinh tế chưa được lượng hóa cụ thể khiến danh sách này dường như mang tính định hướng nhiều hơn là hệ mục tiêu có thể đo lường.
Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết Hà Nội đang xây dựng Đề án thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa"
Cán đích vào năm 2045 ?
Khi gợi ý Hà Nội xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa, ông Tô Lâm đồng thời nói rằng nếu đến 2045 Việt Nam đạt được mục tiêu 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, tức là vượt qua thời kỳ quá độ để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được xem là một giai đoạn tất yếu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.
Một bài viết trên tạp chí điện tử Lý luận Chính trị, cơ quan nghiên cứu và ngôn luận khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đăng tháng 4/2022 nêu rằng : "Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta, phù hợp với xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam".
Việt Nam gọi mô hình hiện nay là "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" và các văn kiện chính thức của Đảng cộng sản thường khẳng định đất nước vẫn đang ở "thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội".
Giáo sư Adam Fforde cho rằng, ở thời kỳ trước, các chế độ cũ như ở Liên Xô thì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đều được định nghĩa và có phương pháp xây dựng rõ ràng.
"Người ta đi Moscow, người ta học rồi về cố áp dụng ở Việt Nam nhưng không được, Việt Nam khác mà".
Sau khi Liên Xô sụp đổ, nền kinh tế thị trường bắt đầu manh nha và phát triển ở Việt Nam từ những năm 1991, 1992, về sau càng được mở rộng, thì bản chất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế đã không còn, mà "chỉ còn cái vỏ bên ngoài", theo Giáo sư Fforde.
Quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo ông Fforde, luôn tồn tại trong hệ thống chính trị của Đảng, trong tư tưởng của những người đã sang Nga học, ở những tầng nấc cao nhất của Đảng.
Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng viết : "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức ; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Theo Giáo sư Fforde, việc sử dụng thuật ngữ của chế độ thực ra có những ý nghĩa của nó.
Thứ nhất là Việt Nam muốn đặt tên cho mục tiêu phát triển của đất nước, đồng thời muốn mình phải khác chủ nghĩa tư bản, do đó phải luôn nhấn mạnh mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Thứ hai là điều này cũng làm an tâm các nhà lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, giúp họ có tiếng nói, có chỗ đứng và "có lương bổng".
Giáo sư Fforde cho rằng, với vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam, ông Tô Lâm cũng cần một cái tên để đặt cho mục tiêu phát triển đất nước mà ông đã đề ra.
Theo chuyên gia này, tên gọi của giai đoạn phát triển này không thực sự quan trọng, vì như ông nói đó chỉ là "cái vỏ", thứ quan trọng là phương thức phát triển của Việt Nam và vai trò của Đảng cộng sản trong đó.
Giáo sư Stephen B. Young thì cho rằng mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu thế kỷ 19 không thể nào tổ chức được một xã hội giàu có, vì chế độ xã hội chủ nghĩa có nghịch lý giữa chính phủ và dân. Ông cũng nghi ngờ về việc liệu vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng, điều mà Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định trong các tiêu chí xã hội xã hội chủ nghĩa được đề xuất gần đây, có thể mang tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được không.
Theo ông, cần có một xã hội phân quyền, trong đó người dân cần có vị trí và quyền lực của mình. Đó không phải là một nhà nước độc đảng, mà cần có "đảng này đảng kia, nghiệp đoàn này nghiệp đoàn kia", lúc bấy giờ thì các động lực thúc đẩy xã hội phát triển mới vận hành đúng quy luật được.
"Nếu một chế độ chỉ có một đảng, đảng kiểm soát chính phủ thì tôi thấy chưa chắc sẽ vượt qua chế độ cai trị tập quyền", ông đúc kết.
Nguồn : BBC, 05/04/2026
******************************
Ông Tô Lâm chỉ đạo xây xã phường xã hội chủ nghĩa : Giống và khác gì mô hình Mác-Lênin ?
BBC, 03/06/2026
Hơn một năm trước, khi Tổng bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết 68, coi kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia", một số nhà quan sát nói với BBC News Tiếng Việt rằng đây là một bước đi thiết thực.
Công cuộc Đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng tại Đại hội 6 năm 1986 là bước ngoặt chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ảnh chụp tại thủ đô Hà Nội năm 1985
Trên thực tế, Hiến pháp, và Nghị quyết 79 mới ban hành gần đây, vẫn khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cách tiếp cận này đã dấy lên những bàn luận : Liệu có mâu thuẫn nào trong mô hình xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng tới, đặc biệt khi so sánh với đặc trưng công hữu của chủ nghĩa xã hội kinh điển ?
Mới đây, ông Tô Lâm, nay giữ thêm chức chủ tịch nước, đã yêu cầu Hà Nội đi đầu làm mẫu, đã gợi ý xây dựng thí điểm một phường hoặc xã xã hội chủ nghĩa, tạo mô hình mới hiệu quả, có sức lan tỏa ra cả nước.
Truyền thông Việt Nam lập tức đồng loạt ca ngợi và "gợi ý" của ông Tô Lâm đã nhanh chóng kích hoạt một cuộc thi đua, phấn đấu trên phạm vi toàn quốc. Không chỉ cấp phường xã, các quan chức chính quyền, các nhà lý luận đã đề cập đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội cấp tỉnh, hướng tới vạch đích 2045, thời điểm mà ông Tô Lâm nói là sẽ hoàn tất thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vậy mô hình mà ông Tô Lâm hướng tới liệu có gì tương đồng và khác biệt so với các định nghĩa kinh điển về chủ nghĩa xã hội trong lý luận Mác-Lênin ?
'Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa'
Trong học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được xây dựng trên nền tảng phê phán chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là cách hệ thống này vận hành dựa trên lợi nhuận và tích lũy tư bản.
Một trong những khái niệm trung tâm là "học thuyết giá trị lao động", theo đó giá trị của hàng hóa được tạo ra từ lao động của con người.
Các Mác (Karl Marx) cho rằng trong nền kinh tế tư bản, người lao động tạo ra giá trị lớn hơn mức tiền công họ nhận được, phần chênh lệch này trở thành "giá trị thặng dư" mà giới chủ sở hữu tư bản thu về dưới dạng lợi nhuận.
Từ lập luận đó, ông cho rằng chủ nghĩa tư bản có xu hướng đặt lợi nhuận lên hàng đầu, dẫn tới bất bình đẳng giàu nghèo, cạnh tranh tích lũy và bóc lột lao động.
Lênin (Vladimir Ilyich Lenin), lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, sau này tiếp tục phát triển tư tưởng này, cho rằng chủ nghĩa tư bản khi phát triển đến giai đoạn cao sẽ hình thành chủ nghĩa đế quốc.
Theo lý thuyết, chủ nghĩa xã hội được xem là giai đoạn chuyển tiếp nhằm đưa các tư liệu sản xuất quan trọng vào sở hữu chung hoặc dưới sự kiểm soát của nhà nước, với mục tiêu giảm bất bình đẳng và hạn chế việc nền kinh tế bị chi phối hoàn toàn bởi động cơ lợi nhuận.
Giáo sư Adam Fforde từ Đại học Victoria, Úc nói với BBC News Tiếng Việt rằng từ định nghĩa đó mới có chế độ kế hoạch của Liên Xô. Lênin, với tư cách lãnh tụ của Liên bang Xô Viết trong giai đoạn đầu, đã có cơ hội để áp dụng các lý thuyết này vào thực tiễn.
Theo nhà nghiên cứu từng làm luận án tiến sĩ với đề tài về hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hồi đầu những năm 1980, những tiêu chuẩn của học thuyết Mác-Lênin không giống mô hình "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" hiện nay ở Việt Nam.
Sau khi Sài Gòn thất thủ vào tháng 4/1975, Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.
Ở miền Nam, nền kinh tế thị trường từng tồn tại dưới thời Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ nhanh chóng.
Chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng, thương nghiệp và nhiều cơ sở sản xuất tư nhân. Các chiến dịch "cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh" được triển khai rộng khắp.
Ban đầu, chiến dịch tập trung vào cộng đồng doanh nhân người Hoa – lực lượng nắm giữ phần đáng kể hoạt động thương mại tại các đô thị miền Nam, sau đó mở rộng ra các doanh nghiệp khác.
Từ đó, nền kinh tế bắt đầu rơi vào khủng hoảng toàn diện. Sản xuất đình đốn, thiếu nguyên liệu và thiếu lương thực diễn ra trên diện rộng. Cơ chế bao cấp cùng các chính sách quản lý cứng nhắc khiến năng suất lao động thấp, trong khi thị trường hàng hóa méo mó và tình trạng chợ đen phát triển mạnh.
Những sai lầm trong điều hành kinh tế, cùng việc cải cách tiền tệ năm 1985 không đạt mục tiêu, tiếp tục đẩy lạm phát tăng vọt, tới khoảng 400%.
Sau khi Tổng bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986, Đảng bắt đầu chuyển hướng chính sách, thực ra là một sự sửa sai, dần trả lại cho thị trường những chức năng cơ bản nhất.
Tại Đại hội 6 vào cuối năm 1986, chính sách Đổi mới được đề ra, mở đường cho việc khôi phục cơ chế thị trường, cho phép kinh tế tư nhân hoạt động trở lại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Từ đây, khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" dần xuất hiện như một cách dung hòa giữa cải cách kinh tế và việc duy trì định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa.
'Công không hẳn là công, tư không hẳn là tư'
Đánh giá về những bước đi gần đây của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Giáo sư Stephen B. Young, Giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism có trụ sở ở Mỹ, nói với BBC News Tiếng Việt : "Tổng bí thư Tô Lâm và nhiều đồng chí của ông ấy thấy rõ việc xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Mác-Lênin là không có kết quả".
"Nếu muốn giữ được lý tưởng của chủ nghĩa xã hội thì phải tìm được những khía cạnh mới, ví dụ năm ngoái Bộ Chính trị ra Nghị quyết 68 để nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân".
Ông đánh giá rằng chủ trương này có thể giúp hội tụ được sức mạnh của người dân để phát triển đất nước và rằng cách tiếp cận mới sẽ có cơ hội thành công hơn so với việc bám sát lý thuyết kinh điển của Mác-Lênin.
Tuy nhiên, Giáo sư Young lưu ý rằng cần phải xem xét cách Việt Nam thực hiện Nghị quyết 79 được ban hành hồi tháng 1/2026, trong đó xác lập vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước.
Ông cho rằng quan trọng là phải có sự kết hợp tốt giữa nhà nước và tư nhân, điều mà theo ông là "có thể sẽ có những chuyện tế nhị".
Theo ông Young, cách giải quyết là "phải nghe cả hai bên, để có sự hài hòa giữa kinh tế tư nhân và nhà nước".
Giáo sư Stephen B. Young từng làm việc tại miền Nam Việt Nam từ năm 1968-1972
Trong khi đó, Giáo sư Adam Fforde cho rằng có mâu thuẫn giữa nội dung của Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, đồng thời lưu ý rằng, khi nói gì về Việt Nam thì phải kèm thêm chữ "nhưng".
"Một nhà nghiên cứu về Việt Nam mà tôi đánh giá rất cao từng nói : 'Ở Việt Nam, tư không hẳn là tư, công không hẳn là công'. Cho nên cái vỏ gọi là kinh tế nhà nước, thì đấy vẫn là một con hổ chạy theo lợi nhuận, nhưng nó bị hạn chế là lãnh đạo và nhân sự cấp cao của nó bị ảnh hưởng bởi cơ chế chính thức của Đảng nhiều hơn".
"Những con hổ khác" có thể là tư nhân, nhưng cũng nằm dưới sự chi phối mạnh mẽ của nhà nước, ông nhận định.
Khi xem xét lịch sử gần đây của Việt Nam, ông cảnh báo đến nguy cơ mất cân bằng, mất kiểm soát, khi để một vài con hổ trở nên quá mạnh, có thể thao túng hệ thống.
Ông dẫn ví dụ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với gần 20 "quả đấm thép" – những tập đoàn, tổng công ty nhà nước khổng lồ như Vinashin, Vinalines. Theo Giáo sư Fforde, đấy là "những con hổ" rất lớn mà ông Dũng phải dựa vào và "phải nuôi".
Ông ví von rằng con hổ lớn có thể bắt được con mồi lớn, "nhưng nó cũng có thể bắt luôn cả mình" và điều này là "nguy hiểm".
'Chủ nghĩa xã hội' có chung sống với tự do ?
Không lâu sau khi ông Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm "xã, phường xã hội chủ nghĩa với quy mô từ 500.000 – 1 triệu dân, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết thành phố sẽ chọn hai xã cạnh nhau với quy mô dân số khoảng 700.000 để thí điểm.
Hôm 5/5, ông Thắng chủ trì phiên họp thường kỳ tháng Năm của chính quyền thành phố, trong đó nội dung dự thảo thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với 54 tiêu chí, gồm 52 tiêu chí chính và hai tiêu chí tổng hợp là "Chỉ số hạnh phúc của người dân" và "Mức độ hài lòng chung".
Lâu nay, Việt Nam đã xác định một số đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa, bao gồm : một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ; do nhân dân làm chủ ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ ; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo ; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế.
Thực tiễn ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm của nhiều quốc gia cộng sản trước đây thường làm dấy lên tranh luận về mức độ tự do của công dân, nhất là tự do biểu đạt và tự do báo chí.
"Lập trường của tôi sau bao nhiêu năm là : tự do là một chuyện rất quan trọng cho sự phát triển, phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa", Giáo sư Young nói.
Qua nhiều năm tiếp xúc, ông thấy nhiều người Việt cả ở trong nước và hải ngoại nói rằng họ ghen tị với Singapore và Hàn Quốc.
Theo ông, ở hai nước đó, chính phủ rất quan trọng trong vai trò vạch ra đường lối. Tuy nhiên, rõ ràng là Hàn Quốc, và ở một mức độ thấp hơn là Singapore, có không gian cho xã hội dân sự, cho báo chí và ngôn luận rộng mở hơn nhiều so với Việt Nam.
Giáo sư Young cũng đề cập đến GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 đạt 5.026 USD (theo số liệu của Chính phủ Việt Nam), thua xa của Hàn Quốc – khoảng 36.000 USD ; và Singapore – gần 100.000 USD.
"Nếu Việt Nam muốn được như Hàn Quốc, Singapore thì họ phải trao quyền cho dân, giao quyền cho các doanh nghiệp tư nhân", ông nói thêm.
Ông cho rằng nếu Việt Nam có thể trao quyền cho cá nhân, tư nhân, và báo chí có nhiều không gian hơn, thay vì chỉ là công cụ tuyên truyền của Đảng, thì có thể phát triển nhanh hơn nữa "trong 10 năm tới".
Vị giáo sư người Mỹ nhấn mạnh rằng mở rộng không gian phản biện là rất quan trọng.
"Nhiều người sợ, không dám nói ra thì mình không học hỏi được từ họ, thành ra tôi nghĩ phải tìm cách trao quyền cho cá nhân, để họ đọc, họ nói, họ làm việc. Người nào làm được nhiều, có kết quả thì nên khen thưởng", ông gợi ý.
Trong khi đó, Giáo sư Adam Fforde cho rằng tự do ở Việt Nam bị hạn chế, nhưng nếu so với Trung Quốc, Triều Tiên hay Lào thì "thoáng hơn".
"Tại Việt Nam không phải là ai cũng sợ nói ra, nhưng nên cẩn thận theo một mức độ nào đó", ông nhận xét.
Chụp lại hình ảnh,Việt Nam xếp thứ 174 trong tổng số 180 nước về tự do báo chí trong Báo cáo thường niên 2026 của Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF)
Các quốc gia cộng sản còn lại
Sau khi Liên Xô sụp đổ, thế giới còn năm quốc gia do các đảng kiểu cộng sản lãnh đạo và tuyên bố đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba và Triều Tiên.
Trung Quốc được xem là trường hợp thành công nhất về kinh tế, hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Việt Nam từ sau Đổi mới đã duy trì tăng trưởng cao trong nhiều năm, thu hút đầu tư nước ngoài mạnh và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo đói, còn Lào cũng cải cách theo hướng thị trường nhưng quy mô kinh tế nhỏ hơn nhiều.
Triều Tiên, quốc gia có mô hình hiện nay khác đáng kể so với chủ nghĩa Mác-Lênin cổ điển, bị cô lập với kinh tế thế giới và chịu nhiều lệnh trừng phạt quốc tế do chương trình hạt nhân của mình.
Từ thời nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành, Bình Nhưỡng đã phát triển tư tưởng Juche (Chủ thể), thường được giải thích là "tự lực tự cường". Hệ tư tưởng này nhấn mạnh tính độc lập về chính trị, kinh tế và quân sự, đồng thời đặt vai trò lãnh tụ ở vị trí trung tâm. Trong lần sửa đổi mới nhất vào đầu năm 2026, Triều Tiên đã bỏ cụm "Xã hội chủ nghĩa" ra khỏi tên gọi bản hiến pháp của mình (tên gọi cũ là Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên).
Ở bên kia bán cầu, Cuba hiện đang chìm trong khủng hoảng kinh tế với tình trạng thiếu điện, thiếu lương thực, thiếu nhiên liệu và lạm phát kéo dài, trong bối cảnh các lệnh cấm vận của Mỹ tiếp tục hạn chế khả năng tiếp cận tài chính và thương mại quốc tế của Havana.
Theo Giáo sư Young, từ lúc Liên Xô sụp đổ đến nay chưa có nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ nào thành công đáng kể.
Ông nói rằng "Triều Tiên là chế độ độc tài, không phát triển được".
"Nga bây giờ không có một đảng cộng sản nào mạnh, Putin có một chế độ như phát xít hơn là cộng sản hồi xưa. Trong khi ông Tập Cận Bình thì cứ nói là có chế độ chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, không theo Mác-Lênin nữa, mà theo truyền thống của người Tàu. Đối với tôi, đó là một chế độ mà chính phủ ở trên, ông Tập như là hoàng đế hồi xưa".
"Chế độ đó cũng có thể gọi là chủ nghĩa xã hội, vì đặt tổ chức lên trên hết, cá nhân không quan trọng", ông đánh giá, song lưu ý rằng hệ thống giám sát đối với công dân tại Trung Quốc quá nghiêm ngặt khiến người dân mất đi quyền tự do, luôn sợ hãi và không dám biểu đạt quan điểm của mình.
Việt Nam cùng với Trung Quốc, Cuba, Lào và Triều Tiên là năm quốc gia được xếp vào nhóm cộng sản, nhưng mức độ "xã hội chủ nghĩa" mỗi nước khác nhau. Nhiều đánh giá cho rằng thực chất Việt Nam và Trung Quốc đang áp dụng nhiều mô hình kinh tế của chủ nghĩa tư bản
Giáo sư Fforde đồng quan điểm rằng Triều Tiên đã thất bại, song cho rằng Trung Quốc và Việt Nam vừa giống lại vừa khác nhau.
Theo ông, thành công về kinh tế của Trung Quốc là nhờ việc xây dựng chế độ kế hoạch hóa tập trung trước, điều mà Việt Nam không làm.
"Nhưng sự khác biệt mà tôi thích, và cho là hay mà ít người quan tâm đến, là việc cái cách Đảng cộng sản Liên Xô thời sau Stalin đã sử dụng cơ chế kiềm chế và cân bằng trong nội bộ đảng để chống việc tập quyền, trong khi Trung Quốc thì không có.
"Cho nên cách đây mấy năm có những nghiên cứu về việc nhất thể hóa ở Việt Nam, người ta cho đó là điều không hay, nguy hiểm, là tập quyền, không nên làm", ông nói với BBC.
Theo chuyên gia này, nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhận thức được rằng tập trung quyền lực quá mức trong chế độ độc đảng là "nguy hiểm và không nên".
"Có một số kinh nghiệm trước đây mà ông Huy Đức đã viết trong cuốn sách Bên thắng cuộc. Đó là việc ông Lê Duẩn và ông Lê Đức Thọ cũng tập quyền, xây dựng bộ máy để đánh những người khác, điều đó là nguy hiểm", ông nói thêm.
Giáo sư Fforde nhấn mạnh rằng việc nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam cảnh giác với tập quyền quá mức là điều tích cực.
"Sự khác biệt giữa Việt Nam với Trung Quốc, theo tôi, là nền chính trị ở Trung Quốc không linh hoạt như Việt Nam", ông đánh giá.
Chuyên gia này cũng cho rằng Trung Quốc dù thành công về mặt kinh tế nhưng việc áp đặt dân và không có tự do internet không phải là dấu hiệu của một chế độ mạnh, mà là một chế độ yếu và sẽ làm cho Mỹ và EU "không ưa".
"Việt Nam thì khôn khéo hơn, là bạn của mọi phía. Cho nên Trung Quốc trong cái thành công có cái thất bại, còn Việt Nam không nói là thành công, nhưng như thế là linh hoạt", ông kết luận.
Nguồn : BBC, 03/06/2026
-----------------------------
- Giáo sư Stephen B. Young từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Những năm sau 1975, ông cùng vợ tham gia trợ giúp các thuyền nhân Việt Nam tị nạn tại Mỹ. Ông là tác giả cuốn sách Kissinger's Betrayal : How America Lost the Vietnam War (Sự phản bội của Kissinger : Mỹ đã thua Chiến tranh Việt Nam như thế nào). Ông từng là phó hiệu trưởng Trường Luật Harvard, Giáo sư Luật tại Hamline University Law School và hiện là giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism có trụ sở ở Mỹ.
- Giáo sư Adam Fforde là một nhà nghiên cứu về Việt Nam, đang viết cuốn sách The Vietnamese Economic Miracle (Phép màu kinh tế Việt Nam). Ông từng đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu vào thập niên 1980-1990 và từng làm cố vấn cho văn phòng SIDA (Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển) tại Đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội giai đoạn 1989-1992.