2026-08-06T21:00:00Z

Con nuôi gốc Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương

Con nuôi gốc Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương | Vietnam Fraternité

Châu Á

Phân tích

Tạp chí Xã hội

Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo : cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh.

Vietnam Fraternité

Ảnh những trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi ở nước ngoài trên màn hình lớn trong một hội nghị ở Seoul, Hàn Quốc, ngày 21/5/2024. © Jae C. Hong, AP

Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử : hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành.

Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con.

Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ 

Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến.

Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép : vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm "dân tộc thuần chủng". Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận.

Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự.

Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ.

Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo : trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều.

Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp 

Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia : được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài.

Nghiên cứu của giáo sư Kim thuộc đại học Suwon về nhận con nuôi xuyên quốc gia cho rằng không thể chỉ nhìn hiện tượng này như một hành động nhân đạo. Ở tầng sâu hơn, đây là dòng chảy một chiều : trẻ em từ các quốc gia nghèo, hậu chiến, thiếu hệ thống phúc lợi được đưa sang các quốc gia giàu hơn, phần lớn là vào các gia đình da trắng trung lưu. Dòng chảy ấy phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa nước gửi con và nước nhận con, giữa gia đình nghèo không có khả năng giữ con và gia đình giàu có nhu cầu nhận con nuôi.

Ở phía Hàn Quốc, nhận con nuôi quốc tế dần trở thành một cách xử lý những vấn đề xã hội mà nhà nước chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn giải quyết : trẻ mồ côi, trẻ lai, trẻ bị bỏ rơi, con của phụ nữ chưa kết hôn và trẻ em từ các gia đình nghèo. Thay vì xây dựng một mạng lưới phúc lợi đủ mạnh để hỗ trợ mẹ đơn thân, phụ nữ nghèo hoặc gia đình yếu thế tiếp tục nuôi con, hệ thống lại lựa chọn con đường đưa trẻ ra nước ngoài.

Ở phía Mỹ và các nước phương Tây, nhu cầu nhận con nuôi cũng rất lớn. Một số gia đình không thể sinh con hoặc khó nhận trẻ trong nước, trong khi trẻ em Hàn Quốc được xem là "dễ thích nghi". Hình ảnh người Châu Á chăm chỉ, ngoan ngoãn, ít gây xung đột và có thể hòa nhập tốt vào xã hội phương Tây đã được chiếu lên chính những đứa trẻ Hàn Quốc. Trong mắt một số cơ quan và gia đình nhận nuôi, trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm "an toàn" : có hồ sơ tương đối rõ, sức khỏe được kiểm tra, quy trình xuất cảnh ổn định và ít nguy cơ tranh chấp từ cha mẹ ruột.

Chính từ đây, ranh giới giữa "cứu giúp trẻ em" và "đáp ứng nhu cầu của người lớn" trở nên mờ nhạt. Khi trẻ em bị đánh giá qua độ tuổi, giới tính, ngoại hình, tình trạng sức khỏe, hồ sơ và khả năng thích nghi, nhận con nuôi không còn thuần túy là hoạt động bảo vệ trẻ em. Nó bắt đầu mang dáng dấp của một thị trường. Điều đau đớn là trong thị trường đó, một số đứa trẻ bị tước đi những thứ căn bản nhất : tên thật, ngày sinh thật, thông tin cha mẹ ruột, ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền được biết vì sao mình bị đưa đi.

Sự hỗn loạn trong hệ thống nhận con nuôi 

Khi trẻ em bị đặt vào logic của quy trình và thị trường, sai lệch hồ sơ không còn là lỗi hành chính nhỏ. Nó có thể trở thành vết nứt đi theo một con người suốt đời.

Một trong những ví dụ tiêu biểu là câu chuyện của đạo diễn tài liệu người Mỹ gốc Hàn Deann Borshay Liem, theo Yonhap. Bà sinh ra với tên Kang Ok-jin, nhưng được đưa sang Mỹ năm 1966 dưới cái tên Cha Jung-hee. Khi đó, một gia đình Mỹ đã hoàn tất thủ tục để nhận nuôi một bé gái tên Cha Jung-hee tại một cô nhi viện ở Jeonju. Nhưng chỉ vài ngày trước khi cha mẹ nuôi đến Hàn Quốc, cha ruột của Cha Jung-hee xuất hiện và đưa con gái về nhà.

Trước tình huống khó xử, cô nhi viện đã chọn một bé gái khác có độ tuổi và ngoại hình tương tự, tên thật là Kang Ok-jin, rồi đưa em sang Mỹ dưới danh tính Cha Jung-hee. Trên hộ chiếu và giấy tờ xuất cảnh, đứa trẻ ấy trở thành Cha Jung-hee. Khi sang Mỹ, bà có tên mới là Deann Borshay Liem, nhưng trong nhiều giấy tờ pháp lý, dấu vết của cái tên Cha Jung-hee vẫn tiếp tục tồn tại.

Với Liem, vấn đề không chỉ là bị đổi tên. Đó là cảm giác sống trong thân phận của một người khác. Bà từng nói mình như đang đi trong đôi giày của Cha Jung-hee, sống một cuộc đời đáng lẽ thuộc về người khác. Hành trình đi tìm "Cha Jung-hee thật" sau này trở thành nội dung bộ phim tài liệu In the Matter of Cha Jung-hee, được PBS phát sóng tại Mỹ. Bộ phim không chỉ kể về một cuộc tìm kiếm cá nhân, mà còn đặt câu hỏi lớn hơn : bao nhiêu đứa trẻ Hàn Quốc đã bị đổi tên, đổi tuổi, đổi hồ sơ để phù hợp với quá trình nhận con nuôi ?

Năm 2025, Ủy ban Sự thật và Hòa giải Hàn Quốc kết luận rằng trong nhiều vụ nhận con nuôi quốc tế từ năm 1964 đến 1999, đã có các vi phạm nhân quyền như ghi trẻ còn cha mẹ thành trẻ mồ côi, làm giả tài liệu và thậm chí thay trẻ khác trong trường hợp trẻ dự kiến xuất cảnh qua đời trước ngày đi. Ủy ban cũng chỉ trích việc chính phủ Hàn Quốc từng ưu tiên đưa trẻ ra nước ngoài thay vì củng cố hệ thống phúc lợi trẻ em trong nước. Những phát hiện này cho thấy các bi kịch như Deann Borshay Liem chắc chắn không phải chỉ là ngoại lệ hi hữu. Chúng phản ánh một thời kỳ mà trẻ em có thể bị xử lý như hồ sơ, còn hồ sơ có thể bị điều chỉnh để hệ thống tiếp tục vận hành.

Hệ quả của trẻ em không quốc tịch

Một hồ sơ sai có thể khiến một người đánh mất gốc gác. Nhưng với nhiều con nuôi Hàn Quốc tại Mỹ, vấn đề còn đi xa hơn : họ lớn lên mà không có quốc tịch Mỹ.

Emily, người được nhắc đến trong các bài viết về cộng đồng con nuôi Hàn Quốc tại Mỹ, là một ví dụ. Bà được nhận nuôi ở Minnesota khi mới 3 tháng tuổi, sống cả đời như một người Mỹ, nhưng đến tuổi ngoài 60 vẫn không có quốc tịch Mỹ. Cha mẹ nuôi của bà đã không hoàn tất thủ tục nhập tịch trước khi bà trưởng thành. Kết quả là Emily gặp khó khăn trong việc gia hạn bằng lái, tiếp cận bảo hiểm y tế và luôn sống trong nỗi lo bị trục xuất về Hàn Quốc.

Joy Alessi là một trường hợp khác từng được đài KBS nhắc đến. Bà được đưa sang Mỹ khi còn rất nhỏ và lớn lên với niềm tin mình là công dân Mỹ. Nhưng đến năm 25 tuổi, khi xin hộ chiếu để đi Mexico, bà mới biết mình không có quốc tịch Mỹ. Điều tưởng như hiển nhiên – rằng một đứa trẻ được gia đình Mỹ nhận nuôi và lớn lên ở Mỹ sẽ là người Mỹ – hóa ra lại không được pháp luật bảo đảm.

Bi kịch này xuất phát từ lỗ hổng trong quy trình nhập tịch. Đạo luật Quốc tịch Trẻ em của Mỹ năm 2000 giúp nhiều trẻ được nhận nuôi từ nước ngoài tự động có quốc tịch nếu đáp ứng điều kiện, nhưng bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ luật này có hiệu lực từ ngày 27/2/2001 và không áp dụng cho những người đã từ 18 tuổi trở lên vào thời điểm đó. Vì vậy, nhiều người Hàn Quốc được nhận nuôi trước giai đoạn này mà cha mẹ nuôi không làm thủ tục đầy đủ đã bị bỏ ngoài hệ thống.

Với họ, không có quốc tịch không chỉ là vấn đề giấy tờ, mà còn ảnh hưởng đến quyền đi lại, việc làm, bảo hiểm, phúc lợi, quyền bầu cử và cảm giác an toàn căn bản. Một số người thậm chí đối mặt với nguy cơ bị trục xuất về Hàn Quốc, nơi họ không nói được tiếng Hàn, không có gia đình, không có ký ức và không có nền tảng sống.

Đây là nghịch lý đau đớn của lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ : những đứa trẻ được đưa đi với lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng khi trưởng thành lại có thể bị chính đất nước nuôi mình lớn xem là người nước ngoài.

Châu Âu cũng là điểm đến của những đứa trẻ bị bỏ rơi

Mỹ là điểm đến lớn nhất của trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi, nhưng không phải là nơi duy nhất. Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Hà Lan và nhiều nước Châu Âu khác cũng từng tiếp nhận hàng nghìn trẻ em Hàn Quốc. Vì vậy, lịch sử này không thể chỉ được gọi là vấn đề Hàn – Mỹ. Nó là một hệ thống xuyên quốc gia, trong đó trẻ em từ Hàn Quốc được đưa vào các gia đình phương Tây trong nhiều thập kỷ.

Theo KBS, Jean-Vincent Placé là một trong những trường hợp con nuôi Hàn Quốc nổi bật tại Châu Âu. Ông sinh ra với tên Kwon Oh-bok, được đưa sang Pháp làm con nuôi năm 1975 khi mới 7 tuổi. Từ một đứa trẻ Hàn Quốc tại trại trẻ ở Suwon, ông trở thành Jean-Vincent Placé, lớn lên trong một gia đình Pháp, học tập, tham gia chính trường và sau này giữ chức Bộ trưởng Cải cách Nhà nước trong chính phủ Pháp. Câu chuyện của Placé thường được nhắc đến như một ví dụ thành công : một người con nuôi Hàn Quốc hòa nhập vào xã hội mới, đạt vị trí cao và trở thành cầu nối giữa Pháp với Hàn Quốc. Nhưng ngay cả trong câu chuyện ấy cũng có một vết đứt đoạn. Placé từng cố gắng xóa ký ức về Hàn Quốc vì nghĩ mình bị quê hương bỏ rơi. Chỉ khi trưởng thành, sau khi có con và trở lại Hàn Quốc, ông mới bắt đầu quá trình hòa giải với nơi mình sinh ra.

Ở Bắc Âu và Tây Âu, những tranh luận về nhận con nuôi quốc tế cũng ngày càng mạnh. Nhiều người con nuôi trưởng thành lên tiếng về hồ sơ bị sai lệch, thiếu thông tin về cha mẹ ruột, cảm giác bị tách khỏi ngôn ngữ và văn hóa gốc. Một số quốc gia Châu Âu đã bắt đầu xem xét lại hệ thống nhận con nuôi quốc tế, sau khi các cuộc điều tra và lời kể của người trong cuộc cho thấy các sai phạm không chỉ xảy ra ở một quốc gia nhận con.

Điều đó cho thấy vấn đề không nằm ở riêng nước Mỹ hay một vài tổ chức cụ thể. Đó là một cấu trúc rộng hơn, trong đó các nước giàu nhận trẻ em từ các nước nghèo hơn dưới danh nghĩa nhân đạo, nhưng không phải lúc nào cũng bảo đảm đầy đủ quyền lợi, danh tính và tương lai pháp lý cho đứa trẻ. 

Cơ hội hòa giải với nơi mình sinh ra 

Đối với nhiều người con nuôi Hàn Quốc, trưởng thành không chỉ là bước vào đời sống người lớn. Đó còn là thời điểm họ bắt đầu tự hỏi : Tôi là ai ? Tên thật của tôi là gì ? Tôi có cha mẹ ruột không ? Vì sao tôi bị đưa đi ? Và Hàn Quốc có phải là quê hương của tôi không ?

Hành trình tìm về cội nguồn có thể đem lại hy vọng, nhưng không đơn giản. Nghiên cứu về người con nuôi xuyên quốc gia cho thấy họ thường đứng giữa nhiều ranh giới : giữa gia đình nuôi và gia đình ruột, giữa văn hóa Mỹ hoặc Châu Âu và nguồn gốc Hàn Quốc, giữa cơ thể Châu Á và môi trường da trắng nơi họ lớn lên, giữa cảm giác được cứu giúp và cảm giác bị tước mất một phần lịch sử cá nhân.

Khi trở về Hàn Quốc, nhiều người có thể cảm thấy nhẹ nhõm khi lần đầu được ở giữa những gương mặt giống mình. Nhưng cảm giác ấy thường chỉ kéo dài đến khi họ nhận ra mình không nói được tiếng Hàn, không hiểu đầy đủ văn hóa Hàn và không dễ được xã hội Hàn Quốc xem là "người Hàn thực sự". Họ có ngoại hình Hàn Quốc, nhưng lại mang ngôn ngữ, thói quen và ký ức của một đất nước khác.

Đó là lý do nhiều nghiên cứu gọi bản sắc của người con nuôi xuyên quốc gia là "bản sắc vượt biên giới". Họ không hoàn toàn là người Mỹ, cũng không hoàn toàn là người Hàn Quốc theo nghĩa truyền thống. Họ là những con người mang trong mình nhiều lớp lịch sử : được nuôi dưỡng ở một nơi, sinh ra ở một nơi khác, mất một gia đình, có một gia đình mới, và phải tự viết lại câu chuyện đời mình từ những mảnh hồ sơ rời rạc.

Nhưng chính quá trình ấy cũng mở ra cơ hội hòa giải. Với Deann Borshay Liem, hòa giải bắt đầu từ việc tìm lại sự thật về cái tên Cha Jung-hee. Với Jean-Vincent Placé, hòa giải bắt đầu từ chuyến trở về Suwon, nơi ông từng sống trước khi sang Pháp. Với nhiều người con nuôi khác, hòa giải có thể bắt đầu từ một tờ hồ sơ, một xét nghiệm ADN, một cuộc gặp mẹ ruột, hoặc đơn giản là quyền được nói rằng : tôi không chỉ là người được cứu giúp, tôi là người có lịch sử riêng.

Hòa giải không có nghĩa là quên đi việc bị đưa đi. Hòa giải là được biết sự thật, được tiếp cận hồ sơ thật, được quyền lựa chọn mức độ gắn bó với Hàn Quốc và được công nhận như một con người có tiếng nói, chứ không phải như biểu tượng của lòng nhân đạo hay thành công của hệ thống nhận con nuôi.

Cơ hội trong tương lai : từ lời xin lỗi đến trách nhiệm thực chất 

Ngày 2/10/2025, Tổng thống Lee Jae-myung đã gửi lời xin lỗi chính thức tới những người Hàn Quốc bị đưa ra nước ngoài làm con nuôi, tới gia đình nuôi và gia đình ruột của họ. Ông nói rằng, thay mặt Hàn Quốc, ông gửi lời xin lỗi và an ủi chân thành tới những người đã chịu đau khổ, đồng thời thừa nhận nỗi bất an, đau đớn và hỗn loạn mà nhiều người con nuôi phải trải qua khi bị đưa đến một đất nước xa lạ từ khi còn quá nhỏ để nói được tiếng mẹ đẻ.

Lời xin lỗi này được đưa ra trong bối cảnh Hàn Quốc chính thức bước vào hệ thống của Công ước Hague về nhận con nuôi quốc tế. Theo Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế tư, Công ước năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nhận con nuôi quốc tế có hiệu lực với Hàn Quốc từ ngày 1/10/2025, sau khi nước này nộp văn kiện phê chuẩn vào tháng 6 cùng năm. Công ước nhấn mạnh nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em, vai trò trách nhiệm của nhà nước và sự minh bạch trong toàn bộ quy trình nhận con nuôi.

Tuy nhiên, lời xin lỗi chỉ có ý nghĩa nếu được nối tiếp bằng hành động cụ thể. Với những người con nuôi Hàn Quốc ở Mỹ và Châu Âu, điều họ cần không chỉ là sự thừa nhận muộn màng. Họ cần quyền tiếp cận hồ sơ gốc, cơ chế sửa sai các giấy tờ bị làm giả, hỗ trợ tìm cha mẹ ruột, tư vấn tâm lý, hỗ trợ pháp lý về quốc tịch và một hệ thống minh bạch để không ai tiếp tục bị bỏ rơi trong chính lịch sử của mình.

Hàn Quốc cũng cần nhìn lại cách xã hội từng đối xử với phụ nữ nghèo, mẹ đơn thân và trẻ em sinh ngoài hôn nhân. Nếu không có chính sách hỗ trợ để các gia đình yếu thế có thể nuôi con, việc nhận con nuôi quốc tế sẽ luôn có nguy cơ trở thành cách che giấu thất bại của phúc lợi xã hội. Bảo vệ trẻ em không thể chỉ là đưa các em đến một gia đình giàu hơn ở nước ngoài, mà trước hết phải là bảo vệ quyền được sống an toàn trong gia đình gốc, nếu điều đó còn có thể.

Với Mỹ và các nước nhận con nuôi, trách nhiệm cũng chưa kết thúc. Một đứa trẻ được nhận nuôi từ nước ngoài phải được bảo đảm quốc tịch, quyền pháp lý và quyền được chăm sóc sau nhận nuôi. Không thể có chuyện một người được đưa sang Mỹ từ khi còn nhỏ, lớn lên như người Mỹ, rồi nhiều thập kỷ sau mới phát hiện mình không có quốc tịch và có thể bị trục xuất về một đất nước xa lạ.

Lịch sử con nuôi Hàn – Mỹ là một vết thương khó lành không phải vì nó thuộc về quá khứ, mà vì hậu quả của nó vẫn hiện diện trong đời sống hiện tại. Nó sống trong những người không biết tên thật của mình, trong những người mang ngày sinh của người khác, trong những người đi tìm mẹ ruột bằng hồ sơ bị sai, trong những người sợ bị trục xuất khỏi đất nước đã nuôi mình lớn, và trong những người trở về Hàn Quốc nhưng không thể nói chuyện với gia đình ruột bằng cùng một ngôn ngữ.

Điều Hàn Quốc cần làm từ nay không phải chỉ là xin lỗi vì đã từng là "quốc gia xuất khẩu trẻ em". Điều cần thiết hơn là bảo đảm rằng những đứa trẻ từng bị đưa đi sẽ không bị bỏ rơi thêm một lần nữa – lần này là trong hành trình đi tìm sự thật, quốc tịch, bản sắc và quyền được công nhận như những con người trọn vẹn.

Trần Công