Quan điểm
Ý kiến
Lịch sử của bất kỳ dân tộc nào cũng không thể tránh khỏi những vết rạn nứt trong lòng người. Ở đâu cũng vậy, cuộc sống vốn là một chuỗi những tranh đấu không ngừng, tranh đấu để tồn tại, để khẳng định mình, để nắm giữ quyền lực… Mà đã có tranh đấu, có chiến tranh, thì tất yếu phải có kẻ thắng, người thua. Việt Nam, dĩ nhiên, cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Nhưng nếu nhìn lại chiều dài lịch sử dân tộc, có lẽ chưa bao giờ có một cuộc "chia ly lòng người" nào lại kéo dài, dai dẳng và ám ảnh như cuộc chia ly bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Những rạn nứt trước đây trong lịch sử, dù có lúc dữ dội, phần lớn vẫn chỉ mang tính phe phái hoặc quyền lực. Khi chiến tranh kết thúc, bên thắng trận nắm được binh quyền, thiết lập trật tự, và theo thời gian, lòng người cũng dần lắng xuống. Lịch sử, theo một nghĩa nào đó, có khả năng tự khép lại những vết thương của nó.
Nhưng lần này thì khác.
Cuộc chia ly sau 1975 không chỉ là sự phân chia giữa những người thắng và người thua, mà là sự đối đầu giữa hai hệ giá trị, hai cách nhìn về con người và xã hội. Nó mang bản chất của một cuộc xung đột ý thức hệ, và vì thế, vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia, gắn chặt với những biến động lớn của thế giới.
Chiến thắng năm 1975, xét cho cùng, không chỉ là một chiến thắng quân sự, mà còn là chiến thắng của một ý thức hệ đang ở thời kỳ đỉnh cao. Nhưng nghịch lý của lịch sử nằm ở chỗ : chính ý thức hệ ấy, chỉ một thời gian không lâu sau đó, lại bị thực tiễn phủ nhận và dần dần tự sụp đổ. Bằng chứng là sự sụp đổ của Liên Xô và toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa.
Những quốc gia còn tiếp tục duy trì hệ tư tưởng này, hoặc đang trong tình trạng thoi thóp như Cuba, hoặc buộc phải thay đổi một cách thực dụng : giữ lại vỏ bọc ý thức hệ như một công cụ bảo vệ quyền lực, trong khi thực chất lại vận hành theo những nguyên lý mà trước đây chính họ đã cố tình xóa bỏ.
Chính nghịch lý này đã tạo nên một vết nứt đặc biệt trong tâm thức dân tộc Việt Nam.
Bên thua cuộc có lý do để cảm thấy rằng sự thất bại của mình không hoàn toàn là tất yếu.
Bên thắng cuộc lại gặp khó khăn khi lý giải ý nghĩa của chính chiến thắng mà mình đã đạt được.
Thua chưa chắc đã sai, mà thắng chưa chắc đã có nghĩa.
Khi hàng triệu người đã chết, đất nước tan hoang, thì câu hỏi "để làm gì" không thể bị né tránh.
Chính điều này làm cho cuộc chia ly lần này trở nên khác biệt với tất cả những lần trước trong lịch sử Việt Nam. Nó không chỉ là một vết thương, mà là một vết thương không dễ tìm được lời giải thích trọn vẹn. Và khi không có lời giải thích, thì cũng khó có sự khép lại, dai dẳng…
Trong khi đó, một thực tế khác càng làm cho khoảng cách trở nên sâu hơn : những người nắm quyền lực tuyệt đối, thay vì chứng minh được tính chính đáng của chiến thắng bằng sự phát triển hài hòa và hạnh phúc chung, lại dần trở thành một tầng lớp đặc quyền, làm giàu bằng tham nhũng, bằng quyền lực, tích lũy của cải trong khi khoảng cách giàu – nghèo ngày càng gia tăng. Điều đó không chỉ là một vấn đề kinh tế, mà còn là một vấn đề đạo lý : nó hoàn toàn đi ngược lại mục đích của chiến thắng, mục đích của cách mạng.
Hòa giải không phải là quên, mà là hiểu
Nếu nhìn một cách bề ngoài, hòa giải dân tộc tưởng như là một điều đơn giản. Người ta chỉ cần kêu gọi "quên quá khứ", "hướng tới tương lai", "xóa bỏ hận thù", những khẩu hiệu nghe rất đúng, rất đẹp.
Nhưng chính ở chỗ đó, cái "dễ" của hòa giải lại trở thành cái "khó".
Bởi vì óc con người không phải là những trang giấy trắng để có thể tùy ý xóa đi rồi viết lại. Ký ức không phải là một thứ có thể cất đi khi không cần đến. Và nỗi đau, một khi đã ăn sâu vào đời sống của cá nhân và tập thể, thì không thể bị xóa bỏ chỉ bằng ý chí hay lời kêu gọi.
Hòa giải, vì thế, trước hết không phải là quên. Nó là một quá trình hiểu.
Hiểu vì sao người khác đã chọn con đường của họ.
Hiểu vì sao những bi kịch đã xảy ra.
Và quan trọng hơn cả : hiểu rằng trong những hoàn cảnh nhất định của lịch sử, không phải lúc nào con người cũng có quyền được lựa chọn…
Chỉ khi có sự hiểu đó, người ta mới có thể bắt đầu bước qua quá khứ mà không phủ nhận nó.
Có bao nhiêu người có thể hiểu ? Ít lắm. Chỉ đọc những dòng này thôi, thể nào cũng sẽ có người nhảy vào đây để chửi tôi là "ba que" (mặc dù tôi không liên quan), hoặc chửi tôi là "phản động"…
Mà khó nhất ở trên đời lại chính là HIỂU. Nói chung, trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực, cái "không hiểu" đã làm cho đại đa số chúng ta trở thành những người tầm thường.
Hòa giải không thể có nếu không có công bằng
Nhưng hiểu thôi thì chưa đủ. Hòa hợp dân tộc không thể chỉ dựa trên lời kêu gọi hay thiện chí. Nó cần một nền tảng sâu hơn : cảm nhận về sự công bằng.
Công bằng ở đây không nhất thiết là phải "trả lại" quá khứ, điều đó nhiều khi là không thể. Một nghịch lý kỳ dị của một bộ phận bên thua trận là ĐÒI hoặc MƠ tái lập lại Việt Nam Cộng Hòa. Đây là một đòi hỏi, một giấc mơ phi lý. Lịch sử đã sang trang, Việt Nam Cộng Hòa đã chết. Dù cái chết của nó, như đã nói ở trên, không phải là tất yếu, nhưng cũng như một con người, nó hoàn toàn không có khả năng thực tế để hồi sinh. Đó là một mong muốn dễ hiểu về mặt tâm lý, nhưng về mặt lịch sử, nó không khác gì việc kỳ vọng những thực thể đã biến mất, như Champa, có thể trở lại.
Nhưng ít nhất, hòa giải đòi hỏi một sự thừa nhận :
- Thừa nhận những mất mát của tất cả các phía
- Thừa nhận rằng đau thương không thuộc độc quyền của bất kỳ ai
- Thừa nhận rằng lịch sử không chỉ có một cách kể
- Bên thắng cuộc cần có những chính sách cụ thể để bù đắp phần nào những mất mát của bên thua cuộc…
Khi những điều đó không được nói ra, hoặc bị né tránh, thì hòa hợp chỉ tồn tại trên bề mặt ; còn bên dưới vẫn là những dòng chảy ngầm của bất mãn và nghi ngờ.
Ở Việt Nam, ngay cả những người ở trong cùng hệ thống, khi tự ra ứng cử, cũng không được chấp nhận. Khi một hệ thống còn không chấp nhận sự khác biệt ngay trong chính nó, thì hoà giải còn là chuyện xa vời vợi.
Hòa giải, nếu có, phải là một quá trình hai chiều. Nó đòi hỏi sự cố gắng hết mình của cả hai phía, và đặc biệt là phía nắm quyền lực.
Gặp mặt tại Paris trong tinh thần hòa giải
Paris, ngày 26/04/2026, cuộc hội ngộ của những người HIỂU.
Ảnh kỷ niệm chụp trước nhà hàng Aux Délices d'Asie : từ trái sang phải : Nguyễn Ngọc Giao, Hà Dương Tường, Hoàng Quốc Dũng và Nguyễn Xuân Thọ
Một cuộc gặp gỡ thân mật đã diễn ra tại trung tâm Paris, trong một nhà hàng nhỏ ở quận 5, do các nhà trí thức thành Paris tổ chức, nhân dịp anh Thọ (Nguyễn Xuân Thọ) từ Đức sang để giới thiệu hai cuốn sách do anh là tác giả : "Xuyên qua mọi chiến tuyến", "Hai quê hương".
Hai vợ chồng tôi cũng rất hân hạnh được ban tổ chức mời tham dự. Vì nhà hàng nhỏ nên ban tổ chức không thể mời được nhiều người, nhưng bà con đã đến tham dự rất đông, không một chỗ nào trong nhà hàng bị bỏ trống.
Đây cũng là dịp đầu tiên tôi được trực tiếp gặp anh Thọ ; trước đây chỉ biết nhau qua các bài viết và trao đổi trên Facebook. Về hai cuốn sách của anh, tôi sẽ nói sau vì tôi chưa đọc, mới chỉ được đọc qua một số đoạn anh đã chia sẻ trên mạng.
Anh Thọ là người ở "bên thắng cuộc", đã sinh sống ở Đức hơn 35 năm, nhưng luôn tâm huyết với vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc. Anh đã bỏ ra rất nhiều công sức để thực hiện những việc cụ thể nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh cho cả hai phía và đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Nói về anh thì dài, nhưng có thể tóm lại : anh là người "viết được" (rất hay) và "làm được" (rất tốt) về vấn đề hòa giải.
Cuộc gặp gỡ ngày hôm qua đã diễn ra thành công ngoài sức mong đợi của mọi người và ban tổ chức. Những người đến tham dự đã có dịp gặp nhau, kết nối, cảm thông, và diễn đạt những suy nghĩ của mình về hòa giải cũng như về hiện tình đất nước. Toàn bộ số sách anh Thọ mang sang đã được bán hết để phục vụ cho một chương trình nhân đạo.
Thành phần tham dự, nói thật, phần lớn đều là những người lớn tuổi. Tôi gần như thuộc loại trẻ. Chỉ có khoảng 5–6 người ít tuổi hơn tôi. Trong số những người có mặt, tôi thực sự chỉ quen biết một vài người. Tuy nhiên, một bất ngờ thú vị đối với tôi là đa số mọi người ở đây lại biết đến tôi qua các bài viết của tôi. Đó thực sự là một sự động viên rất lớn. Và qua cuộc gặp gỡ này, tôi cũng kết nối thêm được nhiều bạn mới. Một điều đặc biệt khác là tôi lại gặp được một đồng nghiệp trong ngành Thống kê.
Xin chân thành cảm ơn ban tổ chức, đặc biệt là anh Nguyễn Ngọc Giao, anh Hà Dương Tường. Cảm ơn vợ chồng anh Thọ đã cất công sang Paris, không quản ngại đường xa. Cảm ơn tất cả các bạn hữu gần xa đã đến tham dự buổi gặp gỡ, và cảm ơn các độc giả của tôi.
Tôi sang Paris năm 1990. Khi đó, trong sinh hoạt cộng đồng, tôi vẫn thấy "lòng hận thù ngất trời". Thời điểm ấy, nếu nói đến hòa giải, hòa hợp dân tộc, nhiều khi có thể bị cả hai phía đánh cho vỡ mồm (thực sự đã có người bị đánh).
Hôm nay, chúng tôi có thể ngồi với nhau, nói về vấn đề này một cách tự nhiên, thoải mái, như một nhu cầu có thật, một nhu cầu cấp thiết của đất nước.
Paris đã thay đổi.
Hà Nội thì sao ?
Hoàng Quốc Dũng
(29/04/2026)