Tư liệu
Khảo luận
Trích : Nhìn lại Sử Việt – từ tiền sử đến tự chủ
Theo truyền thuyết, sau Lạc Long Quân là thời đại Hùng Vương. Lĩnh Nam Chích Quái chép sau khi từ biệt Lạc Long Quân "Âu Cơ và 50 người con lên đất Phong châu, suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam hải, tây tới Ba Thục, bắc tới hồ Động Đình, nam tới nước Hồ Tôn. Hùng Vương chia nước làm 15 bộ"… Nhưng như vậy thì Hùng Vương bắt đầu lên làm vua vào lúc nào ? Và cương vực của đất nước mà Hùng Vương thành lập mở rộng đến đâu ? Điều chắc chắn là triều đại của Hùng Vương kéo dài cho đến khi đất Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với nền văn minh của Trung Quốc và bị kéo vào quỹ đạo của Trung Quốc vì những tài liệu cổ nhất của Trung Quốc đã nhắc tới "đất Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất được gọi là Lạc điền, nước lên xuống theo thủy triều. Dân cư cầy bừa trên ruộng đó để sinh sống. Lạc vương và Lạc hầu cai trị những quận huyện. Ở mỗi huyện có Lạc tướng".
Sau khi từ biệt Lạc Long Quân, "Âu Cơ và 50 người con lên đất Phong châu, suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang
Nhưng thời đại Hùng Vương bắt đầu từ lúc nào ? Lĩnh Nam Chích Quái cũng như các sách sử khác không nói rõ Hùng Vương lên làm vua từ bao giờ, nhưng Đại Việt sử lược, một cuốn sử viết từ thời nhà Trần lại viết khá rõ : "Đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước công nguyên), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần hậu, chính sự dùng lối kết thằng". Lịch sử và khảo cổ học đã giúp cùng chứng minh. Những khai quật khảo cổ tại đồng bằng sông Hồng cho thấy rằng vào thời điểm khoảng từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên cho đến những năm đầu của thế kỷ thứ 1 sau công nguyên, tại vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã đã xuất hiện một nền văn minh khá rực rỡ. Xã hội tại đó đã phát triển đến mức mà người ta có thể tin rằng một nhà nước có vương quyền đã được thành lập. Những điều ghi chép trong Đại Việt Sử Lược có vẻ đã phù hợp với những gì tìm được dưới lòng đất. Nhưng vương triều đó có phải là thật sự có tên là Hùng Vương hay không ? Câu hỏi này này có lẽ cũng khó giải quyết như câu hỏi liệu có một nàng Helen xinh đẹp khiến tạo ra trận chiến thành Troy hay không.
Truyền thuyết và tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam thì khẳng định rằng có một triều đại của các vua Hùng kéo dài trên 2000 năm từ thiên niên kỷ thứ ba cho đến cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Ngọc phả đền Hùng tại Phú Thọ còn có đủ phả hệ của các vua Hùng với tên tuổi cùng thời gian trị vì. Tuy nhiên ngọc phả này khó có thể tin được vì chỉ được viết ra vào thế kỷ thứ 18. Lại nữa hiệu của các vua Hùng trong ngọc phả toàn bằng chữ Hán Việt, một điều không thể xảy ra được khi vào thời đó chúng ta hoàn toàn chưa tiếp xúc gì với người Hán cả. Nhưng dù sao chăng nữa, truyền thuyết này cũng khẳng định rằng vào thời xưa người Việt chúng ta trước khi người Hán sang đã có một vị vua và đó là vua Hùng.
Vào khoảng những năm 20 của thế kỷ trước, một cuộc tranh luận đã nổ ra giữa các học giả chung quanh vấn đề Hùng Vương hay Lạc Vương. Henry Maspero, một học giả người Pháp vốn đã bỏ ra rất nhiều công phu nghiên cứu về lịch sử Việt Nam chủ trương rằng phải gọi là Lạc vương chứ không thể gọi là Hùng vương được. Theo ông chữ Lạc và chữ Hùng trong Hán tự rất giống nhau vì vậy người ta có thể sao chép lại nhầm một cách dễ dàng. Và việc gọi Hùng Vương trong khi tất cả các từ khác, Lạc điền, Lạc dân, Lạc hầu, Lạc tướng là vô lý. Lý luận mà Maspéro và những người ủng hộ ông đưa ra trên đã bị đại đa số những người nghiên cứu về lịch sử Việt Nam bác bỏ vì một lý do chính và quan trọng nhất, truyền thuyết và tất cả những cổ tích và thần thoại Việt Nam chỉ nói đến Hùng Vương chứ không bao giờ nói đến Lạc Vương cả.
Mặc dầu vậy, nghi vấn mà Maspéro đưa ra vẫn là một vấn đề cần phải giải thích cho thỏa đáng. Phải đến những năm cuối của thập niên 60, những công trình nghiên cứu về ngữ học do những nhà nghiên cứu tại miền Bắc Việt Nam mới đem lại một số ánh sáng mới về vấn đề này. Theo một nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc thì từ "Lạc" trong thư tịch của Trung Quốc viết về nước ta là một phiên âm từ "rạc" mà theo tiếng cổ Việt và tiếng Mường có nghĩa là "nước". Vì tiếng Hoa không có âm "r" cho nên họ đã viết thành "lạc". Còn về danh hiệu "Hùng" thì theo Trần Quốc Vượng là phiên âm của từ "khun" một từ cổ của các ngôn ngữ Nam Á có nghĩa là người cầm đầu, người tôn trưởng. Từ này hiện còn tồn tại tại nhiều ngôn ngữ hiện đại như tiếng Khmer, tiếng Thái và ngay cả tiếng Munda, một ngôn ngữ cùng thuộc họ Nam Á tại vùng Đông Bắc Ấn Độ.
Nếu những lời suy luận này đúng thì tuy rằng vào thời kỳ vua Hùng ta quả có một vương triều thật, nhưng vương triều này có tên hiệu là gì thì đó là một điều mà ta không bao giờ biết được. Vương triều đó có niên đại xấp xỉ ngang với giai đoạn của nền văn hóa Ðông Sơn, bắt đầu từ khoảng đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Chúng ta tạm gọi thời kỳ đó là thời kỳ Hùng Vương.
Xã hội dân Lạc dưới thời Hùng Vương
Lĩnh Nam Chích Quái mô tả lại cuộc sống của xã hội dưới thời các vua Hùng như sau :
"Tướng văn là Lạc hầu, tướng võ là Lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang, con gái gọi là mỵ nương, trăm quan gọi là bố chính, thần bộc nữ lệ gọi là xảo, xứng (còn gọi là nô tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương không bao giờ thay đổi.
Lúc ấy, dân sống ở rừng và vùng chân núi, xuống nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại. Bèn nói với vua. Ðáp : "Giống sơn man và giống thủy tộc khác hẳn nhau. Giống thủy tộc yêu kẻ giống mình mà ghét kẻ khác mình cho nên hại nhau đó". Bèn bảo người đời lấy mực xăm vào mình theo hình Long Quân, theo dạng thủy quốc. Từ đó không bị tai họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đó.
Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung đồ làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba, làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Phạt nương đốt rẫy, đất sản xuất nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm. Bắc cây làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong rừng núi. Ðẻ con ra, lấy lá chuối lót lên cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu giúp. Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói muối (có thể là gói đất) làm đầu. Rồi giết trâu dê để làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân".
Căn cứ vào đoạn văn trên của Lĩnh Nam Chích Quái chúng ta có thể thấy xã hội Việt Nam thời Hùng Vương đã bắt đầu phân hóa thành giai cấp với tầng lớp quý tộc, các Lạc hầu, Lạc tướng ở trên và đa số dân chúng bình dân phục vụ cho tầng lớp này. Dưới tầng lớp bình dân là một tầng lớp nô lệ mà theo Lĩnh Nam Chích Quái gọi là sảo xứng. Cách tổ chức xã hội này cũng giống như tổ chức xã hội của nhiều dân tộc ở tình trạng phát triển tương tự như dân Việt thời Hùng Vương. Các khai quật khảo cổ cũng cho thấy rằng đã có một sự phân hóa trong xã hội như vậy. Các ngôi mộ khai quật được thuộc về thời đại này cho thấy hai loại khác biệt, một loại mộ có chôn theo rất nhiều đồ minh khí quý giá và một loại mộ không có bao nhiêu đồ minh khí chôn theo. Ðiều này đã xác minh rằng đã có một sự phân chia giai cấp trong xã hội thời đó. Tuy nhiên sự cách biệt giữa các tầng lớp xã hội chưa thật là sâu sắc, các hiện vật khảo cổ và phong tục mai táng cho thấy ngoại trừ số lượng đồ minh khí ngoài ra chưa có khác nhiều giữa các tầng lớp. Những câu chuyện cổ tích còn lại đến ngày nay như "công chúa Tiên Dung lấy Chử Ðồng Tử" hoặc là "vua tôi cùng đi cầy" ; chuyện bánh dầy bánh chưng nói đến Lang Liêu và các con khác của Hùng Vương thi làm bánh đều cho thấy một xã hội mà phong tục tương đối còn thuần phác và bộ máy cai trị còn chưa phức tạp.
Nhà học giả người Pháp Henri Maspéro căn cứ trên những tập tục của các dân tộc thiểu số miền thượng du Bắc Việt thời đầu thế kỷ 20 đã giả thiết rằng xã hội của dân Lạc, dân Việt Nam dưới thời Hùng Vương, là một xã hội có đẳng cấp dựa trên những quyền lợi thế tập, tinh thần tương ái và lòng trung thành với cá nhân. Dân chúng sống thành những làng nhỏ mà hầu hết là có những quan hệ gia tộc với nhau dưới quyền cai trị của những Lạc tướng. Những giả thiết này phù hợp với những sử liệu còn sót lại và với những phát hiện của khảo cổ học.
Những Lạc tướng này có thể là những tù trưởng bộ lạc liên minh lại thành quốc gia. Người cầm đầu liên minh bộ lạc này là Hùng Vương. Hùng Vương là đại diện cho liên minh bộ lạc trong việc giao tế với các dân tộc miền núi và những bộ tộc láng giềng khác, nhưng có lẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của các bộ lạc. Chính Hùng Vương cũng là chủ của một bộ lạc có cơ sở tại Phong Châu.
Phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong xã hội người Việt cổ. Truyện Tiên Dung và Chử Ðồng Tử cho thấy quyền của người con gái tự chọn người hôn phối vẫn còn được coi trọng. Và như sau này ta sẽ thấy khi dân Việt cổ đầu tiên nổi lên chống lại sự thống trị của Hán tộc họ đã nổi lên dưới ngọn cờ của những vị quần thoa.
Số lượng vũ khí chôn theo trong các ngôi mộ thời Ðông Sơn cho thấy dân Việt thời đó phải chịu những áp lực từ bên ngoài khá nhiều. Các câu chuyện về Phù Ðổng Thiên Vương, truyền thuyết Sơn tinh – Thủy tinh cho ta thấy rằng hiện tượng chiến tranh khá phổ biến dưới thời Hùng Vương. Tuy nhiên những chứng tích tìm được cho thấy rằng thời Hùng Vương chưa có một quân đội thường trực mà chắc hẳn phần lớn những cuộc chiến tranh nếu xảy ra thì sẽ động viên nông dân để chiến đấu. Chuyện Phù Ðổng Thiên Vương cũng cho ta thấy tính cách đó.
Về kinh tế, những mô tả trong Lĩnh Nam Chích Quái, "phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung đồ làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba, làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Phạt mương đốt rẫy, đất sản xuất nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm" có lẽ chỉ tương ứng với giai đoạn đầu khi mà những bộ lạc tạo thành ra dân Việt cổ còn chưa tạo thành được một dân tộc. Sang đến thời Hùng Vương, dân Việt cổ đã biết làm ruộng lúa nước. Thủy Kinh Chú dẫn Giao Châu Ngoại Vực ký, chép :
"Đời xưa đất Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất được gọi là Lạc điền, nước lên xuống theo thủy triều. Dân cư cầy bừa trên ruộng đó để sinh sống. Lạc vương và Lạc hầu cai trị những quận huyện. Ở mỗi huyện có Lạc tướng".
Ðiều đó chứng tỏ rằng trong giai đoạn sau của thời Hùng Vương, nghề trồng lúa nước đã bắt đầu được phổ biến. Trong những di vật tìm được còn có nhiều lưỡi cầy bằng đồng, một điều cho thấy rằng nông nghiệp đã phát triển qua giai đoạn "phạt nương, làm rẫy" (đao canh, hỏa nậu) mô tả trong Lĩnh Nam Chích Quái. Bên cạnh nghề trồng lúa, việc trồng các loại cây khác cũng phát triển. Sách vở và thư tịch Trung Quốc đã nhắc đến nhiều thứ cây của Việt Nam trong thời Bắc thuộc. Những thứ cây này chắc hẳn không phải đợi đến lúc người Hán sang mới bắt đầu được thuần hóa và đem gieo trồng. Nghề chăn nuôi cũng phát triển tuy rằng không tách khỏi trồng trọt. Ðông Nam Á là nơi đầu tiên thuần giống gà nhà và trong những di chỉ của thời Hùng Vương ta thấy có những tượng gà bằng đất nung và bằng đồng. Các gia súc khác mà xương được tìm thấy tại các di chỉ bao gồm chó, heo, trâu bò. Tuy rằng ngựa được nhắc đến trong chuyện Phù Ðổng Thiên Vương, nhưng các di chỉ không cho thấy xương cốt của loại này.
Tuy nông nghiệp đã phát triển, nhưng săn bắn và hái lượm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của dân Việt cổ. Xương cốt của nhiều loại thú rừng đã được tìm thấy tại các di chỉ trong các giai đoạn khác nhau của thời đại Hùng Vương. Nghề đánh cá cũng phát triển. Người ta đã nhìn thấy nhiều lưỡi câu bằng đồng.
Bên cạnh nông nghiệp, các nghề thủ công cũng phát triển mạnh. Nghề mộc, trong đó có nghề sơn đã đạt được một trình độ cao qua việc phát hiện những đồ minh khí bằng gỗ sơn màu nâu đỏ chất sơn rất tốt và kỹ thuật sơn cao. Nghề làm đồ gốm cũng đã phát triển khá cao. Người thời Hùng Vương đã biết làm gốm bằng bàn xoay với những hoa văn và trang trí khá đẹp tuy rằng không nhiều. Trong giai đoạn cuối đời Hùng Vương người ta đã sản xuất được đồ gốm cứng chứng tỏ rằng việc thiết kế lò nung đã được hoàn thiện.
Nhưng quan trọng nhất trong các ngành thủ công nghiệp thời Hùng Vương phải nói đến nghề luyện kim, đặc biệt là nghề làm đồng. Nghề luyện kim này đã xuất hiện từ giai đoạn sớm nhất của thời Hùng Vương mà người ta đã tìm thấy những cục đồng vụn, xỉ đồng hay rỉ đồng tuy rằng hiện chưa tìm thấy những di vật bằng đồng nguyên vẹn. Vào những giai đoạn sau, người ta đã tìm thấy khá nhiều công cụ bằng đồng thau và cả những khuôn đúc. Trống đồng Ðông Sơn là những hiện vật nổi tiếng, đặc trưng cho cả nền văn hóa thuộc vào thời kỳ này. Vào cuối giai đoạn Hùng Vương, khi nghệ thuật đúc đồng lên đến cao độ, thì nghề làm đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện. Một số hiện vật bằng sắt đã được đào lên ở những di chỉ vào cuối thời đại Hùng Vương chứng tỏ rằng kỹ thuật làm sắt mà nhiều người cho rằng do người Hoa đưa vào trong thời Bắc thuộc là không đúng.
Sự suy tàn của triều đại Hùng Vương
Theo truyền thuyết được ghi lại trong Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư thì vào cuối thời Hùng Vương, vua có con gái là Ngọc Hoa Mỵ Nương nhan sắc xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Lạc hầu can rằng : "Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ đó thôi". Vua bèn thôi. Thục Vương vì thế đem lòng oán giận. Sau vua gả con cho Sơn tinh, Thục Vương dặn con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Ðến đời cháu là Thục Phán, có dũng lược, muốn thực hiện chí của tiền nhân nên dấy quân đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang. Lúc đó là vào cuối đời nhà Chu bên Trung Quốc. Triều đại Hùng Vương truyền được 18 đời đến đó là chấm dứt. Tuy nhiên nền văn minh của dân Việt cổ vẫn còn tiếp tục cho đến vài trăm năm sau nữa mới hoàn toàn bị suy thoái.
An Dương Vương là nhân vật được lịch sử ghi chép đầu tiên của nước ta. Tên tuổi, danh hiệu ông và tên nước Âu Lạc của ông được ghi chép đầu tiên trong bộ Quảng Châu Ký được viết ra vào đời Tấn. Sau đó các bộ Thủy Kinh Chú và Việt Kiệu Thư cũng đều nhắc đến An Dương Vương. Nhưng những chi tiết về cuộc đời của ông ngay đến cả thời gian tồn tại của nước Âu Lạc cũng đều bị chìm đắm trong màn đêm của huyền thoại. Cho đến địa điểm mà ông xây thành làm kinh đô cũng không được hoàn toàn xác định. Cái tên Cổ Loa mà người ta đặt cho thủ đô của ông cũng là cái tên mà người đời sau đặt ra. Cổ Loa, nghĩa đen là cái thành cổ hình xoắn ốc chỉ là cái tên tượng hình cho di tích của tòa thành còn lại được coi như là của An Dương Vương xây, chứ còn tên thật của nó mà An Dương Vương đặt ra thì không còn ai biết. Cái tên Cổ Loa chỉ xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ 15 trong các tài liệu của Việt Nam như Lĩnh Nam Chích Quái, hoặc Dư Ðịa Chí và Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư. Trước đó, trong những tài liệu của Trung Quốc chỉ thấy nhắc đến những tên như Việt Vương Thành, hoặc Việt Vương Cổ Thành.
Từ những huyền thoại và truyền thuyết đó, cộng với một chút sử liệu còn sót lại chúng ta chỉ biết được một cách đại cương rằng có một ông vua, có thể tên là Thục Phán, đã đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương, xưng hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Nước này sau đó bị Triệu Đà từ phương bắc tới xâm lăng. An Dương Vương tổ chức kháng cự, nhưng rốt cuộc đã bị thua và đất nước rơi vào sự thống trị của họ Triệu. Nhân vật Triệu Đà và cuộc xâm lăng Âu Lạc đã được ghi chép trong sử liệu của Trung Quốc, nhưng còn An Dương Vương và những gì xảy ra trước đó thì hầu như là hoàn toàn chỉ được nói đến trong truyền thuyết Việt Nam mà thôi.
Những sử liệu của Trung Quốc chỉ nhắc đến giai đoạn sau của triều đại An Dương Vương khi ông chống nhau với Triệu Ðà, thành ra, về việc khởi nghiệp của An Dương Vương chúng ta phải quay trở lại các nguồn sử liệu Việt Nam mà quan trọng nhất là các bộ Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Điện U Linh Tập. Trong truyện "Thần Kim Quy" Lĩnh Nam Chích Quái viết :
"Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục, tên Phán. Nhân vì tổ phụ khi trước cầu hôn lấy Mỵ Nuơng là con gái Hùng Vương nhưng không được nên mang oán. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đánh Hùng Vương diệt nước Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường".
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép lại gần giống hệt như Lĩnh Nam Chích Quái, chỉ nói khác rằng vua đóng đô và xây thành Cổ Loa tại Chu Diên. Sau đó các bộ sách khác như Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú cũng ghi chép về An Dương Vương và nước Âu Lạc với nội dung tương tự. Việt Thường, Chu Diên là tên của các huyện mà các triều đại Trung Quốc lập ra về sau này. Việt Thường theo các bản địa lý cổ nằm tại châu Hoan, tức là vùng Nghệ An bây giờ, trong khi Chu Diên thì nằm tại khu vực tây và nam sông Thái Bình tương đương với vùng Hải Dương, Thái Bình hiện nay. Cả hai chỗ đều không trùng với địa điểm Cổ Loa hiện nay mà người ta vẫn công nhận là thành của An Dương Vương.
Phải cho tới thế kỷ thứ 19 một số sử thần triều Nguyễn mới tỏ ý hoài nghi về một số điểm ghi chép ở trên nhất là ở điểm An Dương Vương là người Ba Thục. Có người như Nguyễn Văn Siêu đã thẳng thắn nghi ngờ cả sự tồn tại của thành vua Thục trên đất nước Giao Chỉ. Lý do chính khiến người ta hoài nghi là không những từ Việt Nam hiện nay đến vùng Tứ Xuyên là nơi đất Ba Thục thời xưa cách nhau một khoảng rất xa và phải đi qua nhiều vương quốc khác vào thời đó, mà còn bởi sự kiện rằng trước khi An Dương Vương xuất hiện gần một thế kỷ thì nước Thục đã không còn tồn tại nữa, vì đã bị nước Tần tiêu diệt vào năm 315 trước công nguyên. Ngay cả trong trường hợp Thục Phán là hậu duệ của các vua Thục thì trong thời gian gần một trăm năm đó, gia đình ông cũng phải kiếm một nơi nào để sinh sống.
Một số học giả đã tìm cách để giải thích khó khăn này trong đó giải thích của Đào Duy Anh được khá nhiều người ủng hộ. Theo ông thì sau khi nước Thục bị diệt vong, con cháu vua Thục chạy sang tá túc tại Sở. Đến khi Sở mất nước thì họ chạy xuống phía nam đến vùng Vân Nam lập một nước Thục khác có tên là Tây Thục. Trong sử Trung Quốc (Hậu Hán Thư – Nam Man Tây Nam Di Truyện) có chép đến nước này trong mục Ai Lao Di chính là nước Thục đó. Như một trong những người ủng hộ thuyết này đã viết :
"Cuối đời vua Hùng, Thục Phán đã từ đây mà xuống xâm lược nước ta. Đó là một cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt. Cuối cùng nước Văn Lang bị tiêu diệt…. Nước Tây Thục (Ai Lao Di) này nằm sát nước ta ở tây bắc, nó nằm trên trục giao thông chủ yếu của nước ta với miền Tây Nam đi qua thung lũng sông Hồng, sông Lô ; Tây Thục cũng là một trạm trung gian trên con đường giao thông quốc tế thời cổ giữa những nước phía Tây như Ấn Độ cổ đại… Đến đời Hán Minh Đế, Ai Lao thuộc hẳn về nhà Hán, Hán chia đất đó thành hai huyện Ai Lao và Bắc Nam, sau đổi thành Vĩnh Xương nay tức là châu tự trị Đức Hoằng thuộc tỉnh Vân Nam".
Tuy nhiên những người chống lại cho rằng đây là một thuyết dựa vào quá nhiều ức đoán. Đặc biệt người ta đã chỉ ra rằng trong thời cổ, việc giao lưu giữa Giao Châu và Ích Châu chỉ hạn chế đến Điền (một vương quốc cổ thuộc khu vực phía Nam tỉnh Vân Nam hiện nay) chứ không bao giờ lên đến vùng Ai Lao Di cả. Ai Lao Di cũng chưa từng bao giờ trở thành một nước hùng mạnh để phát triển và đe dọa Giao Châu cả. Đặc biệt, trong thời Tần Hán, Điền là một bức tường chắn ngang đường giao lưu giữa Bắc và Nam và giữa Trung Quốc với Miến Điện, Ấn Độ ngày nay.
Về niên đại thành lập và thời gian tồn tại của nước Âu Lạc ta cũng có nhiều nghi vấn.
Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược đã chép theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và cho niên đại của nước Âu Lạc từ năm 257 trước công nguyên cho đến 208 trước công nguyên. Việc chọn niên đại này dựa trên một câu của Ðại Việt Sử Lược, cuốn sách sử xưa nhất của Việt Nam còn tồn tại viết vào cuối đời Trần, nói rằng Hùng Vương mất nước vào những năm chót của nhà Chu :
"Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay".
Theo sử Trung Quốc, Chu bị Tần diệt vào khoảng năm 256 trước công nguyên. Nếu Hùng Vương bị mất nước vào tay Thục Phán trước khi nhà Chu bị diệt thì sự kiện đó phải xảy ra muộn nhất là vào năm 256 trước công nguyên. Có lẽ chính vì vậy, nên mà các sử gia ta đã chọn năm 257 trước công nguyên là lúc mà nước Văn Lang bị diệt vong. Còn tại sao lại chọn năm chót của triều đại An Dương Vương là năm 208 trước công nguyên ? Hiện chúng ta không biết các sử gia thời trước căn cứ vào đâu để chọn niên điểm này là lúc kết thúc thời kỳ An Dương Vương. Căn cứ vào sử Trung Quốc năm 208 trước công nguyên là năm Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế bãi binh xâm lược vùng Bách Việt.
Một số sử gia miền Bắc tuy vậy lại cho rằng triều đại An Dương Vương trễ hơn. Sự qua đời của Tần Thủy Hoàng chính là nguyên nhân mà một số sử gia Hà Nội đã chọn lựa năm 208 trước công nguyên như là niên điểm bắt đầu việc An Dương Vương dựng nên nước Âu Lạc, với mốc cuối cùng cho sự diệt vong của nước Âu Lạc được đặt vào năm 180 trước công nguyên. Những lý do mà các sử gia Hà Nội lựa chọn những niên điểm như vậy sẽ được trình bày trong phần sau.
An Dương Vương dựng lên nước Âu Lạc đúng vào lúc toàn bộ vùng Hoa Nam rơi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Chính vì vậy muốn hiểu rõ hơn về An Dương Vương và đất nước Âu Lạc của ông chúng ta cần phải tìm hiểu thêm bối cảnh lịch sử của vùng này vào những năm cuối của thế kỷ thứ ba trước công nguyên.
Năm 222 trước công nguyên, Tần Vương Chính tức Tần Thủy Hoàng Ðế về sau này, sai Vương Tiễn mang 60 vạn quân diệt nước Sở, lúc mang quân về vòng qua Sơn Đông, diệt nước Tề thống nhất Trung Quốc. Năm 221 trước công nguyên Tần Vương tự xưng là Tần Thủy Hoàng Đế đồng thời cử 50 vạn quân chia làm 5 đạo đánh vùng Lĩnh Nam. Năm đạo quân này do Đồ Thư chỉ huy chia làm ba đường, hai đạo quân đi đường thủy đánh Nam Việt, một đạo quân đánh Đông Âu và Mân Việt và hai đạo quân đánh Tây Âu. Chiếm đất đặt ra ba quận Quế Lâm (miền đông tỉnh Quảng Tây) ; Nam Hải (tỉnh Quảng Đông hiện nay) và Tượng (miền tây tỉnh Quảng Tây và miền nam Quý Châu hiện nay)
Nam Việt, Mân Việt và Đông Âu không tạo ra nhiều vấn đề, nhưng đạo quân Tần tấn công vào Tây Âu đã gặp sức đề kháng mãnh liệt của dân chúng. Phải mất ba năm, quân Tần mới giành được những thắng lợi đầu tiên khi vào năm 219 trước công nguyên vua Tây Âu tử trận. Nhưng không vì vậy mà dân Bách Việt chịu hàng phục nhà Tần. Hoài Nam Tử kể lại cuộc xâm lược của nhà Tần vào đất Bách Việt như sau :
"Người Việt bỏ trốn vào trong rừng, sống chung với cầm thú, không ai chịu làm nô lệ cho người Tần cả. Họ chọn những người kiệt hiệt lên làm tướng, ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần, thây phơi huyết chảy hàng mấy chục vạn người và giết được đô úy là Đồ Thư".
Cuộc tiến quân về phía Nam của nhà Tần như vậy là bị sa lầy trên các vùng rừng và núi của tỉnh Quảng Tây. Không có đủ quân trấn đóng, nhà Tần phải gởi thêm lính đến trú đóng ở các vùng mới chiếm được này. Những thành phần binh lính là những người đào vong, tù tội, người nghèo ở gởi rể (chuế tế), lái buôn. Họ ở hỗn cư với dân Bách Việt. Tuy nhiên những đám quân Tần này vẫn bị hoàn toàn cô lập với nhân dân địa phương đến nỗi năm 214 trước công nguyên khi Triệu Đà được cử vào làm chức Úy quận Nam hải đã phải dâng biểu về triều xin cấp cho ba vạn đàn bà góa hoặc con gái chưa chồng để "may vá quần áo cho quân sĩ". Triều đình nhà Tần chỉ gởi được có một vạn năm ngàn người. Tình hình cứ như vậy cho đến khi Tần Thủy Hoàng chết. Tư Mã Thiên cũng đã tả tình cảnh quân Tần như sau :
"Đương bấy giờ nhà Tần ở phía Bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía Nam thì mắc họa với người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được thoái cũng không được. Trong hơn mười năm, đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây ở dọc đường, người chết trông nhau. Kịp khi Thủy Hoàng Đế băng, cả thiên hạ nổi lên chống".
Tần Thủy Hoàng Đế băng vào năm 209 trước công nguyên. Năm sau Tần Nhị Thế ra lệnh bãi binh tại Bách Việt.
Cuộc chiến tại vùng Hoa Nam tuy có tính cách khốc liệt như vậy, nhưng không thấy có ảnh hưởng bao nhiêu tới vùng đất của người Lạc. Truyền thuyết dân gian của Việt Nam hầu như không nhắc nhở gì đến cuộc kháng chiến chống nhà Tần của các dân tộc Bách Việt. Câu chuyện độc nhất được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái có liên quan đến sự kiện này là truyện "Lý Ông Trọng" trong đó kể lại An Dương Vương dâng Lý Ông Trọng cho Tần Thủy Hoàng để quân Tần không đánh nước ta. Tuy nhiên việc nhà Tần tiến đánh vùng Lĩnh Nam đã là một khúc quanh lịch sử quan trọng đối với Việt Nam vì đây là lần đầu tiên mà ta tiếp xúc với văn minh của người Hán, và từ đó dẫn đến việc nước ta trở thành một quận huyện của đế quốc Hán mở đầu cho sự chuyển hóa của dân ta từ Lạc trở thành Việt. Nhưng đó là câu chuyện về sau.
Trong những thập niên 1960 và đầu 1970, vì những lý do chính trị, các sử gia Hà Nội đã tìm cách chứng minh rằng dân Lạc cũng tham gia vào cuộc kháng chiến chống nhà Tần và Thục Phán chính là một lãnh tụ của cuộc kháng chiến đó. Theo họ, Âu Lạc, Tây Âu và Tây Âu Lạc cũng là một, và trong cuộc chiến chống Tần đó các bộ tộc Lạc và Âu đã liên minh cùng cử "người kiệt hiệt" lên làm tướng đánh quân Tần. Người kiệt hiệt đó chính là Thục Phán. Chỉ sau khi Tần Nhị Thế bãi binh thì liên minh Âu và Lạc mới tan vỡ và Thục Phán đánh Hùng Vương diệt nước Văn Lang. Một số người còn đi xa hơn nữa, nói rằng không có cuộc chiến Hùng Thục mà sau kháng chiến chống Tần thành công, Hùng Vương cảm thấy già yếu đã tự động nhường ngôi cho Thục Phán chính thức hóa cuộc liên minh giữa Âu và Lạc.
Những lý thuyết đó phục vụ cho quan điểm chính trị đương thời nhiều hơn là quan điểm sử học. Chúng bỏ quên một số những sự kiện về địa lý lịch sử cũng như về nhân văn. Căn cứ vào các dữ kiện còn lại trong Sử Ký, Hán Thư và Hoài Nam Tử ta có thể thấy rằng quân đội nhà Tần lúc đó tiến tối đa là tới khu vực thượng lưu sông Tây Giang mà thôi, còn cách biên giới nước ta cả mấy trăm cây số. Khó có thể tưởng tượng rằng lúc đó, với Hùng Vương chỉ như thủ lãnh của một liên minh bộ tộc lại có thể gởi quân đi hàng trăm dậm giúp đỡ một đất nước khác mà mình không có liên hệ.
Trên phương diện quân sự, những điều kể lại trong Hoài Nam Tử và Sử Ký cho ta thấy cuộc chiến du kích đã xảy ra sau khi Tây Âu bị quân Tần chiếm mà thôi. Vì vậy, mặc dầu dân Bách Việt sau này có giết được Đồ Thư, nhưng họ vẫn không giải phóng được đất nước của họ. Sau này khi Triệu Đà lập nước Nam Việt, áp dụng những chính sách chiêu dụ thì cuối cùng đã tạo ra được sự lắng dịu và làm cho dân chúng Bách Việt chấp nhận quyền cai trị của nhà Triệu.
Lê Mạnh Hùng
(27/04/2026)