2026-02-27T16:00:00Z

Điểm báo Pháp – Chiến tranh Ukraine : dân Nga muốn, Putin không

Điểm báo Pháp – Chiến tranh Ukraine : dân Nga muốn, Putin không | Vietnam Fraternité

Quốc tế

Phân tích

Chiến tranh Ukraine : Dân Nga muốn hòa bình nhưng chính quyền thì không

Phải chăng xã hội Nga cảm thấy bất lực trước cuộc chiến sa lầy tại Ukraine ? Thuốc độc đã trở thành công cụ ưa thích của Điện Kremlin để dập tắt các tiếng nói bất đồng ra sao ? Bao nhiêu người Châu Phi đã bị đưa sang Nga tham chiến ? Hợp tác quân sự giữa Israel và Ấn Độ tăng cường như thế nào ? Liệu Nhà Trắng có đang cố che giấu mối liên hệ giữa tổng thống Trump và hồ sơ Epstein ? Đó là những câu hỏi chính được các báo Pháp hôm nay, 27/02/2026, quan tâm.

Vietnam Fraternité

Một người phụ nữ cầm hoa đến trước Bức tường Tưởng niệm những Người Hy sinh vì Ukraine ở Kiev vào ngày 24/02/2026, khi Ukraine đánh dấu kỷ niệm tròn bốn năm ngày Nga xâm lược. AFP – Tetiana Dzhafarova

Về thời sự nước Nga, tờ Le Figaro hôm nay đặt câu hỏi : "Người Nga nghĩ gì" về cuộc chiến kéo dài bốn năm tại Ukraine. Bà Elsa Vidal, nhà báo chuyên viết về Nga, mới đây đã công bố những tài liệu mà bà thu thập được và khẳng định rằng rất nhiều người Nga không ủng hộ chiến tranh. Về mặt đạo đức, họ lên án cuộc chiến, nhưng sự lên án đó không có nghĩa là họ sẽ hành động chống lại nó. Ngay khi xuất hiện hy vọng có thể thoát ra, như vào thời điểm đầu khi tổng thống Mỹ Donald Trump lên nắm quyền, họ ủng hộ việc đạt được một thỏa thuận hòa bình. Khi hy vọng ấy tan biến, họ vẫn muốn hòa bình, nhưng với càng ít nhượng bộ càng tốt để giữ thể diện.

Người dân cảm thấy bất lực trước việc thoát khỏi chiến tranh. Nhiều người đã lựa chọn ra đi (từ 800.000 đến 1 triệu người). Những người ở lại và phản đối cuộc xung đột ngày càng cảm thấy bị Châu Âu xa lánh. Bà Vidal nhận định, trước tình hình đó, Châu Âu cần điều chỉnh chính sách : cứng rắn hơn với chính quyền, nhưng mềm mỏng hơn với một số nhóm dân cư Nga như sinh viên, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động. Hiện tại, Liên Hiệp Châu Âu (EU) vẫn có xu hướng nhìn nước Nga như một khối đồng nhất, không tách biệt giữa giới lãnh đạo và người dân.

Tại các thành phố có quy chế cấp liên bang như Moskva và Saint Petersburg, những người sinh sau khi Liên Xô tan rã và rất hội nhập với thế giới, đã hoàn toàn bị sốc trước quyết định mở "chiến dịch đặc biệt" của tổng thống. Chính họ đã biểu tình hoặc bỏ đi, đặc biệt là sang Georgia (Gruzia).

Các thành phố dưới một triệu dân và các đô thị công nghiệp dọc tuyến đường sắt xuyên Siberia đành miễn cưỡng chấp nhận. Còn tại những thành phố sống nhờ trợ cấp của ngân sách liên bang, sự chấp nhận cao hơn vì người dân phụ thuộc vào Moskva.

Tại các nước cộng hòa sắc tộc nghèo nhất, người dân nhìn Nhà nước như một thế lực thù địch. Khi chiến tranh bắt đầu, nhiều người Dagestan gia nhập quân đội ở các vị trí kỹ thuật (đầu bếp, tài xế…) trước khi bị tổng động viên, qua đó tránh bị đưa ra tiền tuyến ngay lập tức. Phụ nữ tại Dagestan đã biểu tình rất nhiều vì họ biết rằng những người bị đưa vào "cối xay thịt" trước tiên thường là những người ít đại diện nhất cho "nước đại Nga". Những người Buryatia rơi vào hoàn cảnh kinh tế tuyệt vọng đến mức phải ra tiền tuyến. Nhưng trong những buổi tối trước ngày lên đường, họ vẫn cùng nhau hát những bài ca phản chiến.

Kỹ nghệ hạ độc của Điện Kremlin

Nhật báo Le Monde hôm nay chạy tựa "Việc đầu độc những nhà đối lập đã ăn sâu vào ADN của giới cầm quyền Nga". Tờ báo nhắc lại rằng bên lề Hội nghị An ninh Munich hôm 14/02, các nước Pháp, Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển và Đức đã đưa ra tuyên bố chung, khẳng định rằng nhà đối lập Alexeï Navalny, người qua đời vào ngày 16/02/2024 trong tù khi đang thụ án 19 năm, đã bị đầu độc bằng một loại độc tố thần kinh theo lệnh của Điện Kremlin. 

Nhận định này dựa trên các phân tích từ các phòng thí nghiệm Châu Âu sau khi kiểm tra các mẫu vật được lấy từ thi thể của ông Navalny. Vợ của vị cố luật sư cho biết các mẫu này đã được bí mật đưa ra khỏi Nga. Kết quả khám nghiệm cho thấy nhân vật đối lập số một của Vladimir Putin đã bị giết bởi một "độc tố gây chết người" – epibatidine, một chất có trong da các loài ếch độc ở Nam Mỹ.

Vì chất này không tồn tại tự nhiên tại Nga, nên nó đã được sản xuất bởi các phòng thí nghiệm đặt dưới quyền kiểm soát của các cơ quan an ninh. Việc loại bỏ các đối thủ bằng cách đầu độc đã ăn sâu vào "ADN" của các nhà cầm quyền Nga. Được những người Bolschevicks sử dụng rộng rãi từ những năm 1920, việc sử dụng thuốc độc đã tái xuất dưới thời của tổng thống Putin.

Có thể kể tới những trường hợp tiêu biểu như vào năm 2004, ứng cử viên tổng thống Ukraine Viktor Yushchenko, người tranh cử chống lại chính trị gia thân Điện Kremlin Viktor Yanukovych, đã bị hủy hoại dung mạo suốt đời sau một vụ đầu độc bằng dioxin. Năm 2006, cựu điệp viên Nga đào tẩu Alexander Litvinenko đã qua đời sau khi uống một tách trà pha polonium-210 – một chất phóng xạ – cùng với các cựu đồng nghiệp thuộc Cơ quan An ninh Liên bang (FSB) tại một khách sạn ở Luân Đôn. Năm 2018, hai đặc vụ Nga thuộc cơ quan tình báo quân đội đã bị cáo buộc liên quan đến vụ tấn công bằng chất độc thần kinh Novichok nhằm vào cựu điệp viên Sergei Skripal và con gái ông tại Vương quốc Anh. 

Lợi thế của chất độc là khó bị phát hiện. Trong trường hợp của Alexei Navalny, phải mất hai năm mới xác định được nguyên nhân, điều này cho phép Điện Kremlin tuyên bố – dù ít ai tin – rằng ông đã chết vì "nguyên nhân tự nhiên", như ghi trong giấy chứng tử chính thức trao cho cha mẹ ông.

Thời điểm được chọn cho vụ ám sát cũng không phải ngẫu nhiên. Cuối năm 2023 – đầu năm 2024, Moskva đang đàm phán với Washington và Berlin về một thỏa thuận chưa từng có : các đặc vụ Nga bị giam giữ ở Châu Âu và Hoa Kỳ sẽ được trả tự do để đổi lấy các tù nhân chính trị Nga và nước ngoài bị giam giữ tại Nga. Nhà sử học người Mỹ Yuri Felshtinsky, tác giả của nhiều công trình về các cơ quan an ninh Nga, nhận định : "Navalny có tên trong danh sách các tù nhân chính trị mà Nga phải trả tự do. Thỏa thuận đã được phê chuẩn giữa phía Nga, Đức và Mỹ. Về phần mình, Vladimir Putin đặc biệt muốn đạt được việc trả tự do cho Vadim Krassikov [một sát thủ của FSB bị kết án tù chung thân tại Đức năm 2021 vì một vụ giết người theo hợp đồng]. Mọi thứ dường như đã được thống nhất thì đột nhiên Navalny qua đời một cách khó hiểu".

Ý tưởng rằng nhân vật đối lập có sức lôi cuốn nhất nước Nga có thể được trả tự do hẳn là điều không thể chấp nhận đối với Putin, người đã đàm phán các điều khoản trao đổi nhưng trong đầu chỉ có một ý nghĩ : loại bỏ ông ta. "Navalny không thể bị giết một cách quá lộ liễu, nếu không thì cuộc trao đổi đã không thể diễn ra. Trên danh nghĩa, ông ấy chết vì ngừng tim. Nhờ đó, Krassikov và những người khác đã có thể được trao đổi", nhà sử học giải thích.

Tuyển mộ trên khắp Châu Phi 

Cũng nói về Nga, tờ La Croix dẫn các báo cáo về việc Moskva tuyển mộ người trên khắp Châu Phi để tham gia vào quân đội Nga. Trong một cuộc điều tra được công bố vào giữa tháng 2, tổ chức All Eyes on Wagner đã chính thức xác định 1.417 người Châu Phi đến từ 35 quốc gia trên lục địa này đã bị tuyển mộ để tham chiến tại Ukraine. Đây có lẽ chỉ là một phần nhỏ trong tổng số lực lượng thực sự được đưa ra tiền tuyến.

Theo các báo cáo, đông nhất là người Ai Cập (361 người), người Cameroon (335 người) và người Ghana (234 người). Phẫn nộ trước việc công dân của mình bị tuyển mộ, Nam Phi đã yêu cầu Nga cho hồi hương 17 công dân và những người này đã được thả ra trong tuần này.

"Liên minh mang tính sống còn" giữa Israel và Ấn Độ

Về thời sự Châu Á, nhật báo Les Echos hôm nay tập trung phân tích về sự hợp tác giữa Tel-Aviv và New Delhi qua bài "Israel và Ấn Độ tăng cường quan hệ đồng minh chiến lược". Nhân chuyến công du hai ngày của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Israel, truyền thông Nhà nước Do Thái đã khẳng định đây là "một liên minh mang tính sống còn". 

Kể từ đầu năm tới nay, hai bên liên tục tăng cường quan hệ trong lĩnh vực quân sự. Ba tập đoàn vũ khí hàng đầu của Israel đã ký các hợp đồng trị giá 8,7 tỷ đô la, chủ yếu nhằm tăng cường năng lực phòng không của Ấn Độ trước các mối đe dọa từ Pakistan. Để thúc đẩy đà hợp tác này, Israel còn chấp nhận chuyển giao công nghệ, đồng thời ký các thỏa thuận liên kết với các tập đoàn Ấn Độ nhằm thúc đẩy sản xuất tại chỗ. Các quan chức Israel vì thế đã chấp nhận rủi ro về khả năng thất thoát bí mật công nghệ. 

Vậy đổi lại, Israel muốn gì ? Thứ nhất, thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đặt mục tiêu thiết lập một mặt trận chung "chống lại hai chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan – được đại diện bởi tổ chức Anh em Hồi giáo phái Sunni và trục Shia", hay nói cách khác là chống lại Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Ngoài ra, thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cũng muốn sự ủng hộ của người đồng cấp Ấn Độ Narendra Modi trong việc đẩy nhanh quá trình triển khai một "hành lang" nhằm kết nối Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc ả rập thống nhất, Saudi Arabia, Jordan với cảng Haifa của Israel. Liên minh này cũng có thể bao gồm các quốc gia như Hy Lạp,  Cyprus và một số nước Châu Á khác. Theo các quan chức Israel, tuyến vận tải này tích hợp hệ thống hậu cần tự động hóa, có thể rút ngắn thời gian trung chuyển container sang Châu Âu tới 40% so với việc vận chuyển hiện nay qua kênh đào Suez. 

Nước Mỹ bước vào "Kỷ nguyên Epstein" 

Về thời sự nước Mỹ, nhật báo Libération có bài phân tích về việc "Chính quyền tổng thống Trump muốn đánh lạc hướng dư luận trong vụ Epstein" như thế nào. Theo đó, không chỉ cố gắng bôi đen một phần các hồ sơ được công bố, mà gần 90 trong số 325 bản ghi lời khai nhân chứng do cơ quan an ninh nội địa FBI thực hiện cũng đã bị che giấu. Trong số đó có ba bản liên quan đến lời khai của một phụ nữ trẻ. Cô cáo buộc rằng tổng thống Mỹ Donald Trump đã tấn công tình dục cô cách đây nhiều thập niên, khi cô mới 13 tuổi. Những cáo buộc này bị Nhà Trắng bác bỏ, đồng thời khẳng định rằng các tài liệu bị thiếu chỉ là bản trùng lặp hoặc thuộc một cuộc điều tra liên bang đang diễn ra.

Nhà bình luận Joshua Rothman nhận định trong một bài viết cho The New Yorker rằng nước Mỹ đã bước vào một "kỷ nguyên Epstein", một thời kỳ mà những người quyền lực dường như luôn bị nghi ngờ tham nhũng, hệ thống tư pháp bị cho là không thể hoàn thành nhiệm vụ, và công chúng bị "bội thực" bởi những tài liệu thô được công bố tràn lan và rồi dần không còn đủ khả năng phân biệt rõ ràng giữa sự kiện đã được xác thực và những suy đoán.

Theo nhà bình luận này, các chuyên gia từng phụ trách điều tra Epstein và mạng lưới của ông trước khi ông qua đời "gần như chắc chắn đã thất bại". Nước Mỹ rơi vào tình trạng thiếu vắng công lý đúng vào thời điểm mà hệ thống tư pháp dường như hơn bao giờ hết chịu sự chi phối của nhánh hành pháp và của một vị tổng thống luôn cẩn trọng né tránh nhắc đến vụ bê bối đầy khó xử này.

Minh Phương