Quốc tế
Phân tích
Iran thu phí qua eo biển Hormuz, liệu các nước khác có học theo ?
Việc Iran lập "trạm thu phí" tại Hormuz phá vỡ nguyên tắc tự do hàng hải quốc tế và tạo một tiền lệ nguy hiểm ? Sản xuất dầu mỏ của thế giới bị ảnh hưởng như thế nào về trung và dài hạn khi eo biển Hormuz tiếp tục bị đóng ? Những lời hăm dọa của tổng thống Mỹ với Iran dường như đã hết tác dụng ? Phải chăng Liên Hiệp Châu Âu sắp có điều khoản về phòng thủ chung tương tự như Điều 5 của NATO ? Trên đây là những chủ đề chính được các báo Pháp số ra hôm nay, 24/04/2026, quan tâm.
Tấm áp phích tuyên truyền của Iran tại Quảng trường Cách mạng ở Tehran vào ngày 22/04/2026. AFP - Atta Kenare
Tờ Les Echos và Le Figaro hôm nay đều có bài phân tích về việc Iran thu phí đi qua eo biển Hormuz. Kể từ hôm 22/04, Tehran đã bắt đầu thu phí đối với những tàu hiếm hoi được phép đi qua eo biển. Thu một đến hai đô la cho một thùng dầu, nghe thì có vẻ nhỏ nhưng lại đưa tới những hệ quả khôn lường. Tính trung bình, Iran có thể thu khoảng hai triệu đô la cho mỗi tàu dầu đi qua Hormuz. Trong bài "Trạm thu phí Hormuz, bài trắc nghiệm chiến lược cho Châu Âu", tác giả Ludovic Subran, giám đốc đầu tư của tập đoàn Allianz, nhận định rằng khi một tuyến hàng hải chiến lược bắt đầu giống như một xa lộ thu phí, vấn đề không còn chỉ là lạm phát đơn thuần. Nó đặt ra câu hỏi về một nguyên tắc nền tảng của hệ thống kinh tế toàn cầu rằng các tuyến đường biển lớn phải luôn mở cửa và miễn phí cho tất cả mọi người.
Quyền tiếp cận tự do sẽ trở thành một quân bài đàm phán, việc cung ứng trở thành vấn đề chính trị, còn thương mại biến thành chuyện của những tên "hải tặc". Hoa Kỳ đã áp dụng một mô hình can dự có chọn lọc, một dạng "bảo trợ địa chính trị", có thể hiệu quả trong việc quản lý cạnh tranh, đặc biệt với Trung Quốc. Nhưng khi áp dụng vào các tài sản chung toàn cầu như các tuyến hàng hải, điều đó đặt ra một vấn đề mang tính nguyên tắc. Bởi nếu quốc gia vốn là người bảo đảm lịch sử cho tự do hàng hải lại bắt đầu đặt điều kiện, thì các nước khác sẽ thử giới hạn.
Đó chính là rủi ro tại Hormuz, không chỉ là việc áp đặt phí qua lại, mà là sự "bình thường hóa" ý tưởng này. Ba hệ quả có thể xảy ra. Thứ nhất các tàu sẽ tính tới việc chuyển hướng các tuyến đường, làm kéo dài hành trình và tăng phát thải. Thứ hai là hiệu ứng lan truyền. Nếu Hormuz có thể thu phí thì người ta cũng tính tới chuyện thu phí ở eo biển Malacca, rồi cả Gibraltar. Cuối cùng, sự xói mòn của một nguyên tắc nền tảng : tự do hàng hải không phải chỉ là một vấn đề mang tính biểu tượng, mà là một nhu cầu mang tính chức năng. Hơn 80% thương mại toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển. Tính trung lập là điều kiện để các chuỗi giá trị toàn cầu vận hành.
Điều này có ý nghĩa gì đối với Châu Âu ? Về cấu trúc, Châu Âu phụ thuộc vào thương mại và nhập khẩu năng lượng nhiều hơn Hoa Kỳ, nên sẽ chịu tác động trực tiếp từ mọi gián đoạn : chi phí nhập khẩu tăng, áp lực lên năng lực cạnh tranh công nghiệp, và sự suy yếu của một động lực tăng trưởng vốn đã căng thẳng.
Phản ứng của Châu Âu cần phải tương xứng với thách thức. Về bản chất, Liên Âu phải khẳng định rõ rằng tự do hàng hải là không thể thương lượng. Về phương pháp, Liên Âu cần xây dựng học thuyết riêng, kết hợp giữa hợp tác an ninh và tự chủ chiến lược. Về mặt thực tiễn, Châu Âu cần tăng khả năng chống chịu, bằng cách đa dạng hóa các tuyến năng lượng, tăng cường dự trữ chiến lược, và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi.
Hormuz bị đóng thêm một ngày, thế giới lại tiến gần đến khủng hoảng thêm một bước
Vẫn liên quan đến vấn đề ở eo biển Hormuz, Le Figaro lại phân tích về quy mô của cuộc khủng hoảng dầu lửa nếu các tàu vẫn tiếp tục bị chặn tại đây. Trong bài "Mỗi ngày đóng cửa Hormuz, thế giới lại tiến gần hơn tới khủng hoảng năng lượng toàn cầu", tờ báo dẫn nhận định từ các chuyên gia, cho biết rằng thị trường dầu mỏ đang bước vào một giai đoạn mà yếu tố quyết định không còn chỉ là địa chính trị mà còn là thời gian. Nói cách khác, mỗi ngày trôi qua đều khiến việc quay trở lại trạng thái bình thường trở nên khó khăn hơn.
Các nhà kinh tế của ngân hàng JPMorgan ước tính rằng chỉ còn khoảng hai tuần nữa là năng lực lưu trữ dầu mỏ của Iran sẽ bị bão hòa, điều có thể tạo ra một điểm bước ngoặt đối với nguồn cung toàn cầu. Chừng nào dầu còn có thể được lưu trữ, sản xuất vẫn duy trì. Nhưng khi không thể tiếp tục lưu trữ được nữa, họ sẽ phải đóng các giếng dầu, trong khi mà việc mở lại sẽ mất rất nhiều thời gian. Vấn đề là không chỉ có Iran mà các quốc gia khác trong vùng Vịnh cũng sẽ phải hành động tương tự khi không thể bán được dầu.
Kinh tế gia John Plassard của ngân hàng Thụy Sĩ Cité Gestion nhấn mạnh : "Chúng ta không còn chỉ nói về một cú sốc tạm thời nữa, mà là nguy cơ phá hủy một phần năng lực sản xuất trong tương lai". Đồng quan điểm, Paola Rodriguez-Masiu, trưởng bộ phận phân tích dầu mỏ của Rystad Energy, cho biết thêm rằng sản lượng dầu mỏ trong tháng Tư đã giảm mạnh hơn tháng Ba, đồng thời các dòng chảy thương mại cũng suy yếu, trái với những gì người ta có thể kỳ vọng sau thỏa thuận ngừng bắn ngày 08/04.
Vẫn theo bà Masiu, ngay cả trong trường hợp có một giải pháp nhanh chóng và "gọn gàng" thì "cũng phải chờ đến tháng 7 thì các dòng chảy dầu mỏ mới có thể phục hồi lên mức 80%–90% so với trước chiến tranh, và cần thêm một đến hai tháng nữa để những thùng dầu đó bắt đầu đến các cảng và được chế biến thành các sản phẩm đang có nhu cầu cấp thiết nhất". Về phần mình, Simon Stiell, người đứng đầu cơ quan Khí hậu của Liên Hiệp Quốc, bày tỏ lo ngại rằng : "Cuộc chiến ở Trung Đông đang góp phần duy trì giá nhiên liệu hóa thạch ở mức cao hơn đáng kể trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm tới".
Liên tục triển hạn tối hậu thư, những lời đe dọa của Trump giờ "hết hạn" ?
Cuộc xung đột tại Trung Đông không chỉ gây ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu hay tình hình năng lượng thế giới, mà còn tác động không nhỏ đến quyền lực của tổng thống Mỹ, người đã phát động cuộc chiến. Theo Le Figaro, những lời đe dọa của ông Trump đã dần mất đi tác dụng khi chúng xuất hiện quá thường nhật. Người ta có thể tìm thấy nhan nhản trên tài khoản Truth Social của ông Trump những lời đe doạ và những tối hậu thư với Iran. Sự sa lầy về mặt chiến lược này không thảm khốc như những gì các đối thủ của ông mô tả, nhưng đã giáng một đòn vào hào quang "bất khả chiến bại" của một tổng thống mà dường như ai cũng từng phải dè chừng. Khả năng đe doạ bằng lời nói của ông không còn hiệu quả như trước. Thậm chí, nó còn có xu hướng phản tác dụng. Những tuyên bố bộc phát của ông đã góp phần làm đổ vỡ cuộc gặp gần đây nhất với các nhà đàm phán Iran, khi ông tuyên bố trước rằng họ đã chấp nhận mọi yêu cầu của phía Mỹ.
Không chỉ vậy, cuộc chiến cũng gây ảnh hưởng lớn đến tâm trạng của chủ nhân Nhà Trắng. Theo Le Figaro, gần như điều gì cũng có thể khiến ông Trump trở nên giận dữ. Gần như mỗi ngày, Trump đều công kích truyền thông, nêu đích danh các tờ báo và thậm chí cả những bài viết tỏ ra nghi ngờ chiến thắng của Mỹ trước Iran. Ông cũng chỉ trích Tòa án Tối cao, nơi có nhiều thẩm phán do chính ông bổ nhiệm. Ông nổi giận với các tua-bin gió vì cho rằng chúng giết chết chim chóc. Hoặc chia sẻ các video khẳng định rằng Barack Obama đã tiến hành một "âm mưu nổi loạn" nhằm lật đổ chính phủ Mỹ năm 2016. Hay những lời công kích của ông nhằm vào giáo hoàng Leo XIV đã gây bối rối ngay cả trong các giới tôn giáo bảo thủ. Đôi khi, ông cũng dễ dàng chuyển sang những chủ đề bên lề, như các dự án kiến trúc của mình, việc xây dựng một Khải Hoàn Môn khổng lồ hay một phòng khiêu vũ lớn tại Nhà Trắng.
Liên Âu sắp có điều khoản phòng thủ chung như của NATO ?
Về thời sự Châu Âu, Le Monde hôm nay chạy tựa "Các quốc gia thành viên xem xét điều khoản tương trợ lẫn nhau". Một trong những chủ đề quan trọng được các nhà lãnh đạo Châu Âu bàn thảo trong cuộc họp tại Cyprus lần này là về một điều khoản của Hiệp ước Liên Hiệp Châu Âu, tương đương với Điều 5 của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO. Điều khoản này quy định về việc hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp một quốc gia Liên Âu bị "tấn công vũ trang". Chủ đề vốn đã được thảo luận nhiều năm nhưng CH Síp đã đặc biệt ưu tiên nhắc tới trong nhiệm kỳ chủ tịch luân phiên của mình. Sáu tuần sau vụ tấn công bằng drone Shahed nhằm vào một căn cứ của Anh đặt trên lãnh thổ nước này, chính phủ Cyprus muốn 27 quốc gia thành viên đạt được đồng thuận để giúp cho Điều 42, khoản 7 của Hiệp ước Liên Âu có thể đưa vào vận hành.
Tuy nhiên, một số quốc gia lo ngại về những thủ tục phức tạp trong việc kích hoạt điều khoản này, vốn là điều thường thấy ở Bruxelles. Theo họ, điều khoản này chỉ cần do các quốc gia tự quyết định, không nhất thiết phải quy định vai trò cho Ủy Ban hay Hội Đồng Châu Âu, bởi vì sau đó sẽ nảy sinh các câu hỏi về cách thức đưa ra quyết định. Đương nhiên, Ủy Ban Châu Âu vẫn có thể tham gia bằng cách huy động các công cụ như chống cưỡng ép, chính sách trừng phạt hoặc tài trợ, trong trường hợp một quốc gia thành viên bị tấn công.
Theo Gesine Weber, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh của Trường Bách khoa Zurich (Thụy Sĩ), điều khoản này có tiềm năng rất lớn đối với Châu Âu : "Khác với Điều 5 của NATO, vốn yêu cầu tất cả các thành viên đều nhất trí thì mới có thể được kích hoạt, Điều 42.7 dễ sử dụng hơn. Nếu một quốc gia viện dẫn điều khoản này, những quốc gia nào tự nguyện thì sẽ đề xuất hỗ trợ. Hiện nay, không tồn tại nguy cơ bị (điều khoản) bị chặn về mặt thể chế".
Dĩ nhiên, nếu không có quốc gia nào đưa ra đề xuất hỗ trợ, điều khoản này sẽ bị suy yếu. Bà Weber cho biết tiếp : "Sức mạnh mang tính biểu tượng của điều khoản này, cũng như khả năng răn đe của nó, nằm ở sự đoàn kết và thống nhất của các quốc gia đứng sau quốc gia bị tấn công. Một quốc gia cũng chỉ viện dẫn điều khoản này khi chắc chắn có thể nhận được đủ sự ủng hộ".
Theo bà, "trong một số trường hợp, như một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một quốc gia, việc viện dẫn điều khoản này là hiển nhiên. Ngược lại, nếu mối đe dọa được điều chỉnh nhằm vào một số cơ sở hạ tầng vật lý hoặc kỹ thuật số ở dưới một ngưỡng nhất định, thì vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn… Tất cả phụ thuộc vào mức độ của cuộc tấn công và hậu quả của nó".
Những rủi ro tiềm ẩn tại các lò phản ứng hạt nhân
Chỉ hai ngày nữa là tròn 40 năm thảm họa hạt nhân Chernobyl (26/04/1986). Nhân dịp này, tờ La Croix đặt câu hỏi : "40 năm sau thảm họa Chernobyl, hạt nhân dân sự đã trở nên an toàn hơn hay chưa ?".
Sau thảm họa Chernobyl và tai nạn Fukushima, nhiều quốc gia đã nâng cao các tiêu chuẩn của mình. Tuy vậy nhưng trong một nhà máy điện hạt nhân vẫn tồn tại nhiều nguy cơ. Yves Marignac, phát ngôn viên của tổ chức negaWatt, tóm tắt : "Nguy cơ chính nằm ở việc mất kiểm soát lõi lò phản ứng, có thể dẫn đến nóng chảy, nhưng cũng nằm ở các bể làm mát nhiên liệu đã qua sử dụng ; nếu các bể này mất nước, chúng sẽ gây ra rủi ro phóng xạ".
Ngoài ra, đối với các rủi ro như khủng bố hoặc ném bom, hiện đã được tính đến nhiều hơn trong giai đoạn thiết kế các nhà máy điện. Tuy nhiên các rủi ro này lại gia tăng nhanh chóng cùng với sự gia tăng của các cuộc xung đột, như tại Ukraine. Lực lượng quân sự có thể gây ra một vấn đề nghiêm trọng không chỉ bằng cách tấn công trực tiếp vào các nhà máy mà còn bằng cách cắt nguồn điện hoặc nguồn nước của chúng, khiến cho mối đe dọa trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.
Minh Phương