Quốc tế
Phân tích
Eo biển Hormuz, quân bài chưa chịu mất giá của Iran
Eo biển Hormuz từ một tuyến hàng hải chiến lược đã trở thành lá bài lâu dài của Tehran, trong lúc Washington ngày càng khó tìm một lối thoát khỏi cuộc chiến. Phía sau ván bài địa chính trị là một Iran kiệt quệ vì chiến tranh, đàn áp và kinh tế suy sụp, một bộ phận người dân không còn muốn tiếp tục sống dưới chế độ Cộng hòa Hồi giáo.
Các tàu đi qua eo biển Hormuz, nhìn từ phía Musandam thuộc Oman, ngày 03/08/2026. Reuters - Stringer
Tehran còn nắm được "vũ khí eo biển" bao lâu ?
Liên quan đến Trung Đông, The Economist đặt câu hỏi "Iran có thể biến eo biển Hormuz thành vũ khí trong bao lâu ?". Các đối thủ của Tehran hy vọng rằng Hormuz sẽ dần mất đi giá trị chiến lược. Ông Chris Wright, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ, từng phát biểu hồi tháng 5 rằng việc đóng cửa Hormuz là "quân bài chỉ có thể tung ra một lần". Các quốc gia vùng Vịnh đang tích cực tìm kiếm những tuyến đường xuất khẩu thay thế. Ông Tom Barrack, đặc phái viên của Donald Trump phụ trách Iraq và Syria, nhận định eo biển này sẽ "không còn là vấn đề đáng bận tâm trong hai năm tới".
Thực tế ra sao ? The Economist đã phỏng vấn nhiều chuyên gia đồng thời phân tích các dữ liệu, và rút ra được ba kết luận. Thứ nhất, mối đe dọa của Iran còn tùy thuộc loại hàng hóa và quốc gia. Thứ hai, khả năng Iran tận dụng eo biển này để trục lợi sẽ suy giảm nhưng có thể không bao giờ biến mất hoàn toàn. Thứ ba, ngay cả khi mức phí mà Iran có thể thu giảm dần theo thời gian, lợi thế chiến lược của nước này không nhất thiết sẽ suy giảm theo.
Trước chiến tranh, khoảng 15 triệu thùng dầu thô đi qua eo biển này mỗi ngày. Đây là loại hàng hóa dễ chuyển hướng nhất. Tuyến đường ống dẫn dầu Đông-Tây của Saudi Arabia - vốn tránh được eo biển Hormuz nhờ chạy ngang qua bán đảo Ả rập để đến cảng Yanbu bên Hồng Hải - đang hoạt động hết công suất 7 triệu thùng/ngày. Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) cũng đã khai thác tối đa công suất đường ống Habshan-Fujairah ; vận chuyển 1,8 triệu thùng/ngày. Khoảng 200.000 thùng dầu khác đang được vận chuyển hàng ngày qua một đường ống nhỏ hơn từng bị bỏ không của Iraq nối với Thổ Nhĩ Kỳ.
Như vậy chỉ còn thiếu 10 triệu thùng dầu/ngày. Bên cạnh đó có thể xây dựng các đường ống mới, bổ sung công suất 1,8 triệu thùng/ngày vào cuối năm 2027. Tuy nhiên, vẫn còn một lượng dầu tương đương không có tuyến đường thay thế nào khác. Hơn nữa, không có biện pháp nào trong số này là hoàn toàn bảo đảm thành công. Việc chuyển hướng vận chuyển các sản phẩm hóa dầu còn khó khăn hơn nhiều, hiện chưa có giải pháp. Việc xây dựng các nhà máy lọc dầu mới bên ngoài khu vực vùng Vịnh sẽ tốn kém hàng tỉ đô la và mất nhiều thời gian hơn so với việc xây dựng đường ống dẫn dầu. Vấn đề trở nên đặc biệt nan giải đối với khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), mặt hàng mà Qatar gần như độc quyền xuất khẩu.
Hormuz, "mỏ vàng" của Iran
Theo The Economist, vẫn còn cơ sở để hy vọng. Theo thời gian, hầu hết các nước nhập khẩu có thể giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung qua eo biển Hormuz. Giá dầu cao trong một vài năm có thể thúc đẩy khu vực Châu Mỹ và các nơi khác tăng sản lượng thêm 2-3 triệu thùng/ngày. Các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc vẫn còn công suất dư thừa. Ngành khí hóa lỏng (LNG) đang có tốc độ mở rộng nhanh nhất trong lịch sử. Do đó, tầm ảnh hưởng của Iran đối với giá dầu toàn cầu sẽ suy giảm trước khi thập niên này kết thúc.
Nhưng nhiều quốc gia vẫn cần đến eo biển Hormuz trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa. Các nước Ả rập vùng Vịnh nhập đến 95% nhu cầu ngũ cốc từ bên ngoài. Việc vận chuyển khối lượng lớn ngũ cốc, quặng sắt hay bauxite bằng đường bộ cũng không khả thi : chỉ một tàu loại Panamax duy nhất có thể chở 60.000 tấn ngũ cốc, tương đương với 2.000 xe tải. Một tuyến đường sắt nối Hồng Hải với Qatar có thể tiêu tốn hơn 25 tỉ đô la. Vì vậy Iran vẫn có thể dùng eo biển Hormuz làm công cụ gây sức ép và trục lợi trong một thời gian dài.
Dự kiến với mức thu 1,5 đến 2 triệu đô la cho mỗi tàu đi qua, Tehran có thể chiếm đoạt khoảng 35 tỉ đô la mỗi năm, với giả định lượng tàu đạt khoảng 70% so với trước chiến tranh. Còn nếu mức phí trung bình là 3 euro/tấn tại vùng biển Iran và 2 euro/tấn tại vùng biển quốc tế, thì chỉ khoảng 2-3 tỉ euro/năm. Nhiều chủ tàu có thể sẽ chấp nhận chi trả, nhưng tình hình sẽ thay đổi nếu các tàu liên tục đi qua eo biển mà không trả phí cho Iran. Một nghịch lý nảy sinh : Iran cần hòa bình với Mỹ để thu phí vận hành trơn tru, nhưng lại phải tiếp tục tấn công các tàu không tuân thủ để đảm bảo việc thu phí.
Ở một khía cạnh tích cực hơn, Iran có thể sẽ giảm phí nhanh hơn mức cần thiết, vì mục tiêu chiến lược có thể nhằm củng cố vai trò "người gác cổng". Tehran muốn một điều gì đó mang tính lâu dài : một cơ chế quản lý - có thể là khuôn khổ song phương với Oman, một cấu trúc dịch vụ hàng hải hay một hệ thống cấp phép. Việc Iran chiếm được loại vũ khí mới này một cách dễ dàng khiến các đối thủ bàng hoàng, và dường như Tehran còn tiếp tục kiểm soát được Hormuz ngay cả khi cuộc chiến kết thúc.
Leo thang và thương lượng : Donald Trump rơi vào vòng lẩn quẩn
Courrier International dịch lại bài phân tích của Financial Times, theo đó "Trump bế tắc hoàn toàn trong chiến tranh Iran". Trong 5 tháng vừa qua, tổng thống Mỹ và các cộng sự nhắc lại mười mấy lần là "đang đến gần một thỏa thuận", tuy nhiên nếu là sự thực, thì sẽ rất thấp so với mục tiêu ban đầu.
Ngoại trưởng Marco Rubio nói với báo chí, thỏa thuận về lâu dài là phi hạt nhân hóa Iran, còn trước mắt liên quan đến eo biển. Một số người chỉ trích đây là một sự sỉ nhục. Giờ đây thỏa thuận nào cũng phải trao cho Tehran việc kiểm soát một phần eo biển Hormuz và thu phí, những điều kiện không thể tưởng tượng nổi cách đây một năm. Về tham vọng nguyên tử, Washington phải thương lượng với một chế độ ngày càng ngoan cố hơn. Nói cách khác, rất xa so với đòi hỏi "đầu hàng vô điều kiện" của ông Trump.
Dù Trump có thoát khỏi cuộc chiến này bằng cách nào đi nữa, cái giá chính trị phải trả sẽ rất cao, đặc biệt là khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ chỉ còn chưa đầy ba tháng nữa. Kho dự trữ hỏa tiễn đánh chặn đã cạn kiệt, và người Mỹ cùng các đồng minh đã kiệt sức, khiến tổng thống chỉ còn "những lựa chọn hạn chế" - theo Michael Ratney, cựu đại sứ Mỹ tại Saudi Arabia dưới thời Joe Biden. Việc leo thang sẽ làm tăng giá dầu, gây hại cho thị trường năng lượng thế giới. Nhưng một thỏa thuận cho phép Iran kiểm soát một phần eo biển sẽ bất lợi cho tất cả, từ các đồng minh vùng Vịnh đến người đóng thuế Mỹ.
Giáo sư Vali Nasr, đại học Johns-Hopkins nhận định "Trump đang bế tắc. Ông không thể chiến thắng bằng quân sự trong giai đoạn này, không thể giải quyết bằng ngoại giao mà không phải trả giá về chính trị ở Hoa Kỳ". Ông thường mất bình tĩnh vì mọi việc không đơn giản như dự kiến. Càng bị chỉ trích, Donald Trump càng có thể leo thang và khi việc cưỡng bức không kết quả, ông lại quay về với việc ngừng bắn tạm thời, và cái vòng lẩn quẩn cứ lặp lại.
Người dân Iran sợ đàm phán hơn cả chiến tranh
Về nội bộ Iran, Le Figaro Magazine nói về "Một dân tộc trong gọng kềm". Kiệt lực vì bị đàn áp, chiến tranh và kinh tế suy sụp, cư dân Tehran và các thành phố khác bắt đầu ra khỏi im lặng. Những câu chuyện của họ cho thấy một dân tộc sẵn sàng lật đổ Cộng hòa Hồi giáo. Bằng các kênh an toàn, với rất nhiều thận trọng, tuần báo liên lạc được với Lili, Kaveh, Sawed.
Lili tâm sự, người dân Tehran có cảm giác như họ là tù nhân của một chế độ cư xử chẳng khác nào lực lượng chiếm đóng nước ngoài. Sống với những trận oanh kích thật khó khăn, nhưng đó là lần duy nhất thấy được sự sợ hãi từ các tay chân của chế độ. Khi bom trút xuống, nhắm vào các địa điểm dùng để đàn áp, bọn họ bỏ chạy khỏi các đồn bót và trung tâm tra tấn, trốn trong trường học… Lili từng nhìn thấy những người biểu tình ngã xuống dưới lằn đạn tàn bạo. Cô cho rằng nếu oanh kích chỉ để buộc Tehran đàm phán, thì chính người dân phải trả giá đắt. Ngược lại, nếu nhằm làm yếu đi bộ máy đàn áp thì dân sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm.
Kaveh, sống ở ngoại ô Tehran phẫn nộ khi những vụ hành quyết vẫn tiếp diễn. Theo ông, điều đáng sợ là ngoại giao các nước muốn để chế độ Hồi giáo tại vị để đổi lấy một thỏa thuận về nguyên tử hay eo biển Hormuz. "Chúng tôi có lẽ là dân tộc duy nhất trên thế giới sợ đàm phán hơn là chiến tranh". Quốc tế cần ủng hộ người dân Iran về quân sự, ngoại giao và chính trị ; ném bom có mục tiêu cụ thể nhắm vào các quan chức, làm tê liệt hoạt động đàn áp vào lúc người dân xuống đường để tránh bị thảm sát, hoặc cho phép dân chúng giành quyền kiểm soát các trung tâm quyền lực. Trong khi chờ đợi, dân Iran vừa bị trấn áp vừa chịu đựng cảnh kinh tế suy sụp. Lạm phát gần 90%, giá cả leo thang từng tuần, người nghèo phải nhịn ăn, gặm bánh mì khô vì trứng trở thành hàng xa xỉ.
AI, mối đe dọa bất ngờ đối với Bắc Kinh
Trước những tranh cãi về cuộc đua trí thông minh nhân tạo (AI) The Economist giải thích "Vì sao AI là nguy cơ cho cộng sản Trung Quốc". Bắc Kinh không có vị thế thuận lợi để tận dụng công nghệ này như nhiều người vẫn nghĩ. Là chế độ độc tài, Trung Quốc có những lợi thế nhất định trong việc khai thác công nghệ hứa hẹn nhất của thế kỷ 21. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng đối mặt với không ít vấn đề.
Trước hết về ưu điểm, các mô hình tiên tiến của Trung Quốc đang ngày càng thông minh hơn. Trong vài tuần gần đây, các phòng thí nghiệm của Trung Quốc đã ra mắt Qwen3.8-Max và Kimi K3 có năng lực gần như ngang ngửa với những AI tiên tiến nhất của Mỹ, như Fable 5 của Anthropic, và cũng có khả năng bứt phá khỏi môi trường thử nghiệm. Tuy nhiên nếu cân bằng giữa chi phí và trí thông minh, các mô hình của Mỹ đều vượt trội.
Trung Quốc rất giỏi trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong khi dư luận Mỹ ngày càng phản đối việc xây dựng các trung tâm dữ liệu, thì Đông Nam Á lại đang trở thành nơi đặt các cơ sở quy mô lớn của Bắc Kinh. Các mô hình tạm dịch là mã nguồn mở (open-weight) của Trung Quốc có thể chạy trên bất kỳ máy chủ. Trung Quốc có công suất phát điện gấp gần ba lần so với Mỹ.
Bắc Kinh lén nhập khẩu các loại chip tiên tiến của Nvidia, và Hoa Vi (Huawei) đang nhanh chóng gia tăng sản lượng các loại chip cây nhà lá vườn (dù hiệu năng thấp hơn). Trung Quốc hiện đã sử dụng tia cực tím sâu (deep UV) để chế tạo chip, mặc dù công nghệ tối tân nhất về tia cực tím cực xa (extreme UV) vẫn nằm ngoài tầm với.
Để tạo động lực cho nền kinh tế, AI còn cần được triển khai rộng rãi. Giới lãnh đạo Trung Quốc coi việc phổ cập công nghệ là phương thức cạnh tranh hiệu quả nhất. Các xe tải có sự hỗ trợ của AI sẽ cần ít hơn 30% số lượng tài xế. AI cũng được sử dụng để tạo ra 95% trong tổng số 128.000 bộ phim ngắn (thời lượng 1-2 phút) phát hành vào quý đầu năm 2026, thay thế vai trò của nhiều diễn viên và ê-kíp làm phim. Các doanh nghiệp nhà nước được yêu cầu phải đưa 10.000 robot hình người vào làm việc trước cuối năm 2026. Điều này rất dễ dẫn đến sự bất mãn trong xã hội. Hiện tại, tỉ lệ thất nghiệp ở thanh niên đã ở mức khoảng 15%.
Gần đây, các quan chức thận trọng đã làm chậm tiến độ thử nghiệm dịch vụ taxi tự hành (robotaxi) sau khi hơn 100 chiếc gặp sự cố tại Vũ Hán, khiến hành khách bị mắc kẹt. Tuy nhiên, việc phát triển AI theo kiểu "lúc nhanh lúc dừng" có thể làm suy giảm năng lực đổi mới sáng tạo. Trung Quốc có thể sẽ phải cân nhắc giữa rủi ro bất ổn xã hội và nguy cơ tụt hậu so với Mỹ. AI đặt ra những thách thức tương tự cho cả Mỹ và Trung Quốc. Cả hai xã hội đều sẽ phải tự tái cấu trúc. Đây là điều mà các nền dân chủ thường thực hiện dễ dàng hơn so với các chế độ độc tài.
Mặt Trời, vẻ đẹp kỳ vĩ ẩn chứa hiểm nguy
Trên lãnh vực khoa học, Le Nouvel Obs dành hồ sơ cho "Mặt Trời, thiên thể đã trở nên ít bí mật hơn nhưng có vẻ nguy hiểm hơn" với những đợt nóng, hạn hán, cháy rừng lớn. Ngày 12/08, nhật thực toàn phần sẽ diễn ra, nhấn chìm nước Pháp vào bóng tối trong vài khoảnh khắc. Trong khi vẫn đang là ban ngày, ánh sáng đột nhiên có vẻ "lạnh lẽo", bóng tối bỗng rõ nét. Chim chóc ngừng hót, trốn trong các bụi cây, không khí lạnh hơn. Rồi Mặt Trời biến mất hoàn toàn. Cảnh tượng phù du và kỳ vĩ này, chỉ xảy ra mỗi 375 đến 400 năm ở cùng địa điểm, nhắc nhở chúng ta về vẻ đẹp bất biến của Vũ trụ và sự nhỏ nhoi vô cùng của loài người.
Những ngôi sao này, bắt đầu quay hàng tỉ năm trước chúng ta và sẽ tiếp tục vũ điệu của chúng rất lâu sau đó, có liên quan gì đến nhân loại ? Lần cuối cùng nhật thực ở Pháp là vào ngày 11/08/1999. Vào thời điểm đó, Mặt Trời, bị Mặt Trăng che khuất, ở rất xa. Một vật thể không thể với tới nhưng hào phóng ánh sáng, người ta cảm thấy tiếc nuối khi mất đi rồi sau đó lại nhẹ nhõm lúc tái sinh. Từ lâu con người đã được giải thoát khỏi cơn thịnh nộ của các vị thần nhờ tiến bộ khoa học, nhưng với nhật thực năm 2026, trong mùa hè bị tàn phá bởi các đợt nắng nóng và cháy rừng quy mô lớn, câu chuyện không còn như vậy nữa.
Mặt Trời là ngôi sao lớn nhất Thái Dương hệ (chiếm đến 99,86% tổng khối lượng của cả hệ), nóng nhất (5.000°C ở bề mặt và bên trong hơn 1 triệu độ) và lâu đời nhất còn hoạt động (chiếu sáng từ 4,6 tỉ năm). Ngược với Mặt Trăng, không thể đến gần Mặt Trời vì quá xa (cách Trái Đất 150 triệu kilomet) và quá nóng nên không thể sống sót khi hạ cánh. Lần đầu tiên trong lịch sử, tàu thăm dò Parker Solar Probe được phóng đi vào năm 2018 và đến 2020 có thêm tàu Solar Orbiter của Châu Âu.
Kỳ tích đã đạt được năm 2024 khi Parker Solar Probe đến gần được ở khoảng cách 6 triệu kilomet. NASA đã thiết kế một tấm chắn nhiệt bằng carbone dày 11,5 cm, giúp chống lại sức nóng cực độ và bức xạ mạnh mẽ của Mặt Trời. Trong một phần tư thế kỷ qua, chúng ta đã tiến gần hơn đến Mặt Trời. Từ khi hai tàu thăm dò của Mỹ và Châu Âu đến gần được, các nhà khoa học có được những dữ liệu hoàn toàn mới để hiểu được những hiện tượng như nguồn gốc gió mặt trời, ảnh hưởng từ tính ; những hình ảnh mang lại rất cụ thể và tuyệt đẹp. Nhưng bên cạnh đó, Trái Đất bị nung nóng bởi bức xạ Mặt Trời.
Nhiệt lượng bị giữ lại do CO2 tích tụ trong khí quyển từ hoạt động con người, làm gián đoạn chu trình vận chuyển của nước, ảnh hưởng đến cảnh quan và sức khỏe. Tuần báo cho rằng tốt nhất nên có cách sống thích hợp với biến đổi khí hậu. Hãy còn rất nhiều câu hỏi chưa có lời đáp. Tàu thăm dò Parker Solar Probe được dự kiến kéo dài hoạt động sau 2026, tàu Solar Orbiter ít nhất đến 2027. Le Nouvel Obs kết luận, dù sao cũng không phải vội. Hãy còn 5 tỉ năm nữa để hiểu được thiên thể này trước khi Mặt Trời tắt lịm.
Trẻ hóa, từ giấc mơ đến phòng thí nghiệm
Đời sống con người ngắn ngủi, nhưng liệu có thể thực sự làm trẻ lại hay không ? Le Point đi tìm câu trả lời trong số báo tuần này với chủ đề "Trẻ hóa, từ ảo ảnh đến thực tế khoa học". Từ phẫu thuật thẩm mỹ đến liệu pháp gien, khát vọng về một cuộc sống dài lâu hơn và xinh đẹp hơn đang thúc đẩy các bác sĩ và nhà nghiên cứu tìm tòi thêm. Tại các dưỡng đường và phòng thí nghiệm, hai tham vọng đang cạnh tranh với nhau. Một bên tập trung vào khuôn mặt, đường nét và dấu hiệu mệt mỏi ; bên kia đi xa hơn, vào sâu bên trong tế bào và thậm chí các gien, nơi diễn ra quá trình lão hóa từ từ của cơ thể. Do đó, trận chiến đầu tiên là về ngoại hình.
Theo Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Quốc tế, kể từ năm 2020, số lượng các thủ thuật thẩm mỹ, cả phẫu thuật và không phẫu thuật, đã tăng 40% trên toàn thế giới. Thời đại hiện nay đòi hỏi sự kín đáo : cần có vẻ ngoài thư thái nhưng không thay đổi khuôn mặt. Không còn những sự biến đổi quá rõ rệt, những khuôn mặt cứng đờ với các đường nét giống nhau. Phẫu thuật mí mắt hiện là thủ thuật phổ biến nhất, thậm chí còn thông dụng hơn cả hút mỡ. Đôi mắt được chú ý trước cả cơ thể.
Cách xa phòng mổ, một cuộc cách mạng khác đang nảy sinh. Không còn chỉ đơn thuần nhằm xóa mờ nếp nhăn, mà hướng đến việc làm chủ "đồng hồ sinh học". Vào tháng 6, lần đầu tiên một bệnh nhân được dùng liệu pháp gien để lập trình lại một phần các tế bào thần kinh thị giác. Một bước đi đầu tiên, vẫn còn mong manh, hướng tới một viễn cảnh chóng mặt : một ngày nào đó khôi phục sức sống cho các cơ quan bị tổn thương do tuổi tác.
Trong cuộc đua này, một nhóm dược chất là sénolytique đang mang lại nhiều hy vọng. Cách điều trị nhắm vào các tế bào lão hóa ; các tế bào đã mệt mỏi nhưng không chết, tích tụ và lặng lẽ gây tình trạng viêm. Loại bỏ chúng giống như dọn dẹp nhà cửa - không phải để kéo dài tuổi thọ vô hạn định, mà là để cố gắng duy trì sức khỏe lâu hơn. Hai con đường - và hai tầm nhìn - về lão hóa. Một đằng tìm cách làm mờ đi những dấu vết thời gian hằn trên khuôn mặt, đằng khác mơ ước tiến hành một cuộc chiến tận gốc rễ. Nhưng nỗi ám ảnh tiềm ẩn vẫn như nhau : không hoàn toàn cam chịu một điều không thể tránh khỏi.
Thụy My