2026-05-18T21:00:00Z
Khủng hoảng Trung Đông : Cơ hội cho hợp tác khai thác dầu khí Việt-Trung ở Biển Đông ?
Tiêu điểm
Phân tích
Tạp chí Việt Nam
Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2).
Ảnh lưu trữ ngày 07/05/2012 về giàn khoan dầu Hải Dương Thạch Du (Haiyang Shiyou), giàn khoan nước sâu đầu tiên được phát triển ở Trung Quốc, được chụp tại vị trí cách Hồng Kông 320 km về phía đông nam trên Biển Đông. Ngày 19/01/2016, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết Trung Quốc đã di chuyển một giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông. AP - Jin Liangkuai
Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là "chảo lửa" Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz. Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả.
Theo một tài liệu của Bộ Công thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước.
UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ?
Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ?
Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về "Khảo sát Địa chấn biển chung" (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực "theo thỏa thuận" rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : "Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng".
Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon :
"Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế.
Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia".
Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác
Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon :
"Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan.
Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia".
Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được
Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc.
Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024.
Song song với việc "quấy rối" hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng "tích cực" đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích :
"Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022.
Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ".
Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định :
"Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ.
Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung.
Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các "điểm kiểm soát" - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa.
Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy".
Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho rằng, "các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên".
Thu Hằng
Nguồn : RFI, 18/05/2026
(1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence
(2) The Middle East Crisis and Southeast Asia’s Energy Vulnerability