2025-10-20T21:30:00Z

Lịch sử không hề cáo chung và tự do lẫn dân chủ cũng không hề tăng lên

Lịch sử không hề cáo chung và tự do lẫn dân chủ cũng không hề tăng lên | Vietnam Fraternité

Tiêu điểm

Bình luận

Diễn ngôn Trung Quốc ở đâu trên bản đồ tư tưởng toàn cầu ?

Vương Thiệu Quang, Lê Thị Thanh Loan, Nghiên cứu quốc tế, 20/10/2025

Vào ngày 16/10/2025, "Diễn đàn Nhà Tư tưởng 2025" do Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Đại học Phúc Đán, Tạp chí Nghiên cứu Phương Đông, trang Guancha, Đế Lãng Văn hóa và Viện Nghiên cứu Chiến lược Xuân Thu Thượng Hải đồng tổ chức, đã được tổ chức thành công tại Thượng Hải. Diễn đàn lần này cũng nhằm kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Nghiên cứu Trung Quốc của Đại học Phúc Đán. Với chủ đề "Diễn ngôn Trung Quốc và sự tái thiết trật tự thế giới", diễn đàn đi sâu thảo luận về các vấn đề lớn mà Trung Quốc và thế giới đang phải đối mặt.

Vietnam Fraternité

Ngày 16/10/2025, "Diễn đàn Nhà Tư tưởng 2025" đã được tổ chức thành công tại Thượng Hải.

Trong bài phát biểu của mình, Vương Thiệu Quang – Giáo sư Danh dự tại Khoa Chính trị và Hành chính thuộc Đại học Trung Văn Hồng Kông – chỉ ra rằng, bản đồ tư tưởng toàn cầu đã trải qua bốn giai đoạn biến đổi : Từ thời kỳ "muôn giọng cùng cất tiếng" trước Thế chiến thứ Hai, đến sự đối lập nhị nguyên thời hậu chiến giữa hai khối Mỹ-Liên Xô với "tự do đối đầu dân chủ", đến thế chân vạc hình thành sau sự chia rẽ Trung-Xô vào những năm 1960, và cuối cùng là sự chủ đạo ngắn ngủi của thuyết "sự cáo chung của lịch sử" sau những năm 1990. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đánh dấu sự sụp đổ của huyền thoại về thị trường tự do và dân chủ tự do, và thế giới đang quay trở lại thời kỳ cạnh tranh và đa nguyên về tư tưởng.

Giáo sư Vương Thiệu Quang nhấn mạnh rằng, "diễn ngôn Trung Quốc" thực thụ không nên chỉ giới hạn ở việc kể câu chuyện của Trung Quốc, mà phải là một hệ thống lý thuyết phổ quát do người Trung Quốc khởi xướng và được hình thành thông qua sự tương tác với thế giới. Đây chính là thách thức lớn nhất mà giới trí thức Trung Quốc phải đối mặt trong vài thập kỷ tới.

Nội dung dưới đây là bản ghi chép bài phát biểu của diễn giả, chỉ thể hiện quan điểm của diễn giả và nhằm mục đích tham khảo.

------------------------

Vương Thiệu Quang :

Tôi muốn bàn về sự biến đổi của bản đồ tư tưởng toàn cầu. Từ cuối thế kỷ 19 đến cuối Thế chiến thứ Hai năm 1945, có thể nói bản đồ tư tưởng trong giai đoạn này mang đặc trưng là "muôn giọng cùng cất tiếng", với sự xuất hiện của vô vàn hệ tư tưởng. Những người nghiên cứu lịch sử tư tưởng Trung Quốc cận đại đều biết rằng, đã có vô số trào lưu tư tưởng xuất hiện ở Trung Quốc trong giai đoạn này. Bản thân Mao Trạch Đông cũng từng tin theo nhiều hệ tư tưởng khác nhau, trước khi cuối cùng lựa chọn chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản. Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, thế giới phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, và cũng đã đề xướng vô số lý thuyết, giải pháp khác nhau để ứng phó. Toàn nhân loại đã khám phá và lựa chọn trong những lý thuyết này và đây là giai đoạn đầu tiên – thời kỳ "muôn giọng cùng cất tiếng".

Thời hậu chiến, khoảng từ năm 1945 đến năm 1960, thế giới dần hình thành hai hệ thống diễn ngôn chủ đạo. Một bên là hệ diễn ngôn "Thế giới Tự do", do người Mỹ khởi xướng vào năm 1947. Trong hệ diễn ngôn này, dân chủ không đóng vai trò chủ đạo, và "thị trường" cũng không phải là nội dung cốt lõi. Nếu nhìn lại diễn ngôn chính thống của phương Tây trong khoảng thời gian từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1960, sẽ thấy rằng có rất ít sự nhấn mạnh vào "dân chủ" và "thị trường". Nếu sử dụng Google Scholar để tra tần suất xuất hiện của từ khóa, kết quả cũng cho thấy từ ​​"dân chủ" có tần suất xuất hiện rất thấp. Diễn ngôn phương Tây khi ấy chủ yếu tập trung vào "tự do", vì vậy họ tự xưng là "Thế giới Tự do".

Trong khi đó, "phe dân chủ nhân dân", với đại diện là Liên Xô, cũng phát triển một hệ diễn ngôn của riêng mình. Năm 1947, Andrei Zhdanov đưa ra luận thuyết "dân chủ nhân dân", qua đó đặt phe xã hội chủ nghĩa vào thế tấn công, phê phán một cách gay gắt nền dân chủ giả hiệu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nhấn mạnh vị thế dân chủ chân chính của mình. Kết quả, trên bản đồ tư tưởng toàn cầu đã hình thành hai diễn ngôn chủ đạo : Một bên nhấn mạnh "tự do" và một bên nhấn mạnh "dân chủ xã hội chủ nghĩa". Hai bên ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

Bước sang những năm 1960, với sự chia rẽ Trung-Xô, tôi cho rằng một hệ diễn ngôn thứ ba đã xuất hiện : Diễn ngôn này được đại diện bởi Trung Quốc, Mao Trạch Đông và Đảng cộng sản Trung Quốc. Hệ thống này nhấn mạnh đến cách mạng, chủ nghĩa Marx-Lenin, và một số yếu tố của chủ nghĩa Stalin, đồng thời đề xuất một loạt tư tưởng, chẳng hạn như lý thuyết về "Thế giới Thứ ba". Từ đó, bản đồ tư tưởng toàn cầu đã chuyển từ thế nhị nguyên sang thế tam nguyên.

Thế chân vạc này kéo dài đến khoảng năm 1990, cũng tức là trước khi Liên Xô tan rã. Trên thực tế, sự hòa giải Trung-Xô bắt đầu từ chuyến thăm Trung Quốc của Gorbachev năm 1989, đây là dấu mốc đánh dấu sự kết thúc của trật tự cũ. Sau năm 1990, đã xuất hiện một thời kỳ được nhiều người coi là có ảnh hưởng sâu sắc. Tuy nhiên trên thực tế, nó chỉ kéo dài khoảng hơn một thập kỷ, tức từ những năm 1990 đến khoảng năm 2010, đây là giai đoạn mà thuyết "sự cáo chung của lịch sử" chiếm thế chủ đạo.

Khi Francis Fukuyama công bố bài viết của mình vào năm 1989, lý thuyết này đã dẫn đến một số tranh luận, nhưng tác động của nó chưa thực sự rộng rãi. Phải đến khi cuốn sách của ông được xuất bản vào năm 1992, ảnh hưởng của lý thuyết này mới thực sự lan rộng. Mặc dù nhiều người bày tỏ sự không đồng tình với thuyết "sự cáo chung của lịch sử", nhưng hai khái niệm mà nó đề cao – thị trường tự do và dân chủ tự do – lại đạt được sự chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, bao gồm cả Trung Quốc, ở những mức độ khác nhau.

Nhìn lại những năm 1990, tôi thường có cảm giác như đang chiến đấu với cối xay gió – các luận điệu tự do chủ nghĩa có mặt ở khắp nơi. Năm 1992, tôi từng viết một bài phê phán "liệu pháp sốc" (shock therapy). Khi đó, phương pháp này mới nổi lên và được tôn thờ như thần thoại, nhưng chỉ cần đọc một chút lịch sử và Marx, ta sẽ thấy ngay sự phi lý trong đó. Tuy nhiên, chính sự phi lý này lại là thứ mà ta buộc phải đấu tranh chống lại trong thời gian dài.

Trong lịch sử, từng có nhiều hệ tư tưởng trở thành chủ lưu chỉ trong một thời gian ngắn, rồi lại nhanh chóng sụp đổ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, niềm tin vào thị trường tự do bắt đầu sụp đổ. Tôi nhớ khi ấy, có kênh truyền thông Mỹ thậm chí còn nói rằng : "Giờ đây, tất cả chúng ta đều đã là người xã hội chủ nghĩa !" Kể từ đó, toàn bộ hệ tư tưởng bắt đầu tan rã. Kéo theo đó, chính khái niệm dân chủ tự do cũng rơi vào khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu. Các cuộc thăm dò dư luận trên khắp thế giới đều cho thấy, mức độ tín nhiệm của công chúng đối với các cơ quan được bầu ra là rất thấp. Thật là một điều trớ trêu. Niềm tự hào lớn nhất của dân chủ phương Tây chính là cơ chế bầu cử, vậy mà các cơ quan được bầu ra lại không được người dân tin tưởng, thậm chí còn kém tin cậy hơn cả các cơ quan bạo lực như cảnh sát. Có thể nói, toàn bộ câu chuyện mà thuyết "sự cáo chung của lịch sử" đại diện đã đi đến hồi kết.

Câu hỏi đặt ra lúc này là : Liệu bản đồ tư tưởng toàn cầu có quay trở lại thời kỳ "muôn giọng cùng cất tiếng" không ? Chính theo nghĩa này, khái niệm "diễn ngôn Trung Quốc" mới thể hiện rõ ý nghĩa của nó. Những thành tựu thực tế mà Trung Quốc đạt được và những lý thuyết mà Trung Quốc đề xuất, thực chất là một phản hồi mạnh mẽ đối với tuyên bố nổi tiếng của Margaret Thatcher rằng "Không có lựa chọn nào khác" (There is no alternative). Trung Quốc đã chứng minh rằng : "Một thế giới khác là hoàn toàn khả thi" (Another world is possible). Đây là đóng góp hiện tại của chúng ta, nhưng vẫn còn xa mới đủ.

Bước quan trọng tiếp theo là giải thích "Tại sao Trung Quốc lại thành công". Tôi cho rằng chúng ta đã thực sự thành công, nhưng vẫn chưa giải thích được một cách thấu đáo, và ngay cả chính bản thân chúng ta cũng chưa hoàn toàn hiểu rõ căn nguyên của thành công này. Ở mức độ lớn, chúng ta vẫn thiếu một hệ thống lý thuyết nhất quán và được hỗ trợ bởi bằng chứng vững chắc – ít nhất thì cho đến nay tôi vẫn chưa thấy. Vì vậy, bước đột phá quan trọng trong giai đoạn hiện nay là xây dựng một "lý thuyết thực chứng" để giải thích một cách có hệ thống những thành tựu mà Trung Quốc đã đạt được cho đến nay.

Tuy nhiên, thách thức còn lớn hơn nằm ở phía sau : Chúng ta cũng cần phát triển một lý thuyết chuẩn tắc (normative theory). Diễn ngôn Trung Quốc không nên chỉ giới hạn ở việc kể câu chuyện của Trung Quốc, mà phải là một hệ thống lý thuyết được Trung Quốc đề xuất dựa trên kinh nghiệm lịch sử và sự quan sát thế giới của chính mình, đồng thời có khả năng chỉ đường cho thế giới. Nó không chỉ trả lời câu hỏi "Chuyện gì đã xảy ra ?", mà còn phải trả lời câu hỏi mang tính chuẩn tắc "Chúng ta nên đi hướng nào ?".

Theo tôi, đây luôn là điểm yếu của chúng ta. Cũng như, tuy Marx là người Đức, nhưng chúng ta không thể gọi lý thuyết của ông là "diễn ngôn Đức", vì đây là diễn ngôn do người Đức đề xuất, nhưng mang ý nghĩa phổ quát cho toàn nhân loại. Thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt trong 20 đến 30 năm, thậm chí 50 năm tới, là liệu chúng ta có thể phát triển được một hệ thống diễn ngôn do Trung Quốc khởi xướng nhưng mang ý nghĩa phổ quát hay không. Nếu quá nhấn mạnh vào "diễn ngôn Trung Quốc", chúng ta có nguy cơ loại trừ những người khác khỏi khái niệm ấy.

Điều chúng ta kỳ vọng là một hệ thống diễn ngôn do người Trung Quốc đề xướng, đồng thời cũng hoan nghênh sự tham gia của các nước khác và có thể dẫn dắt tương lai của thế giới. Điều này đòi hỏi nỗ lực chung của chúng ta. Tôi e rằng một mình tôi không thể làm được điều đó.

Xin cảm ơn !

Vương Thiệu Quang

Nguyên tác : 绍光中国当下的成就与理念是对撒切尔夫人"别无选择"论的有力回应, Guancha, 19/10/2025.

Lê Thị Thanh Loan biên dịch

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 20/10/2025

*****************************

Vẫn chưa phải là sự cáo chung của lịch sử

Timothy Stanley & Alexander, Nguyễn Việt Vân Anh, Nghiên cứu quốc tế, 10/09/2014

Bài liên quan : Sự cáo chung của lịch sử ?

Vietnam Fraternité

Chủ nghĩa tự do dường như không đạt được những gì mà nó đã hứa hẹn ngay chính tại phương Tây và cũng không được ưa chuộng như chúng ta mong muốn tại các quốc gia đang phát triển. Ảnh minh họa

Dù chúng ta có công nhận hay không thì đa số người phương Tây đều tin vào chủ nghĩa tự do. Chúng ta muốn đạt được quyền bình đẳng cho tất cả mọi người, xóa bỏ ranh giới chủng tộc, vừa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng vừa bảo vệ quyền được phản đối. Đồng thời, chúng ta theo đuổi một hệ thống kinh tế có lợi cho tham vọng của cá nhân. Nhưng càng ngày người ta càng cảm thấy rằng chủ nghĩa tự do dường như không đạt được những gì mà nó đã hứa hẹn ngay chính tại phương Tây và cũng không được ưa chuộng như chúng ta mong muốn tại các quốc gia đang phát triển. Vấn đề ở đây chính là sự tự đại đã làm mờ mắt những người ủng hộ thuyết tự do, làm cho họ không trông thấy những vấn đề trong cuộc khủng hoảng đang làm mai một bản sắc của lí thuyết này. Điều này làm cho chủ nghĩa tự do không thể thích nghi được với những thách thức trong thế giới hiện nay.

Vào mùa hè cách đây 25 năm, Francis Fukuyama tuyên bố "sự cáo chung của lịch sử" và chiến thắng không thể chối cãi của nền dân chủ tư bản tự do. Lập luận của Fukuyama đơn giản là : nền dân chủ sẽ lấn át các loại hình nhà nước khác vì bản chất yêu chuộng hòa bình và thịnh vượng [của con người] sẽ thúc đẩy các quốc gia đi vào con đường tiến bộ – điều này là không thể tránh khỏi. Nếu một quốc gia – thậm chí là một quốc gia cộng sản – mong muốn đạt được độ thịnh vượng cao nhất có thể, quốc gia này phải áp dụng một số phương pháp của chủ nghĩa tư bản. Vì khả năng tạo ra thịnh vượng phụ thuộc vào sự bảo vệ tài sản cá nhân, những "yếu tố tư bản" dần rồi sẽ đòi hỏi quyền cá nhân được bảo vệ nhiều hơn trước pháp luật.

Cũng như nhiều nhà phê bình đã chỉ ra, logic của Fukuyama mang sắc thái gần giống như thuyết sử luận kiểu giả Hegel (pseudo-Hegelian historical determinism). Trong đầu thế kỉ 20, những nhà Mác-xít và Phát-xít đã vận dụng thuyết này và để lại nhiều hậu quả khủng khiếp. Tuy nhiên, khi bài báo của Fukuyama xuất hiện trên tờ The National Interest thì khó có thể không đồng tình với ông. Bức tường Berlin chuẩn bị sụp đổ, Liên Xô đang tan rã và cả thế giới đang háo hứng với sự nở rộ của thị trường tự do. Mọi thứ đều chỉ ra rằng chỉ có nền dân chủ tư bản tự do mới cho phép con người phát triển trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, và chỉ có việc thúc đẩy nền kinh tế tư bản mới có thể đảm bảo một tương lai của các quốc gia tự do-dân chủ, không bị áp bức, tồn tại trong hòa bình và sung túc.

Với hoàn cảnh hiện tại thì Fukuyama không thể nào sai hơn. Lịch sử không hề cáo chung và chủ nghĩa tự do lẫn nền dân chủ cũng không hề tăng lên. Sự đồng thuận êm ái của phương Tây bắt nguồn từ lập luận của Fukuyama đang bị thách thức theo những cách mà chính Fukuyama cũng đã không dự báo được. Một cuộc Chiến tranh Lạnh mới đã nổ ra. "Chủ nghĩa tư bản Mác-xít" của Trung Quốc cho thấy rằng có thể đạt được sự thịnh vượng mà không cần đến tự do. Và sự thắng thế của phong trào Nhà nước Hồi giáo ISIS có thể là khởi đầu của một loại chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo kiểu mới hướng tới mẫu hình nhà nước.

Đáng lo ngại hơn nữa là mối liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản, nền dân chủ và chủ nghĩa tự do – nền tảng chính trong lập luận của Fukuyama – bản thân nó cũng đã sụp đổ. Với cuộc khủng hoảng tài chính và sự đi xuống của kinh tế toàn cầu, ta càng thấy rõ rằng thịnh vượng không thể đạt được thông qua việc theo đuổi hệ thống kinh tế tư bản mở hay việc mở rộng không thể tránh khỏi của quyền tự do trong kinh tế. Thậm chí điều ngược lại có thể đúng. Như Thomas Piketty đã lập luận trong quyển Capital in the Twenty-First Century (Tư bản trong Thế kỷ 21), thị trường tự do không chỉ làm tăng khoảng cách giàu nghèo, mà còn làm suy giảm thu nhập trung bình tại các nước phát triển lẫn đang phát triển. Tại các nước bị thiệt hại nặng nề nhất từ suy thoái kinh tế – như Hi Lạp hay Hungary, các cử tri đã quay lưng lại với chính khái niệm chủ nghĩa tự do mà Fukuyama tin tưởng rằng họ sẽ đón chào nồng nhiệt. Trên khắp Châu Âu, chủ nghĩa can thiệp kinh tế, chủ nghĩa dân tộc, thậm chí là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, đang thu hút được nhiều cử tri hơn những những người ủng hộ tự do, phi điều tiết hay bình đẳng trước pháp luật. Nền dân chủ tư bản tự do không hề chiến thắng. Thậm chí, những thất bại của chủ nghĩa tư bản đã biến nền dân chủ thành kẻ thù của chủ nghĩa tự do. Thêm vào đấy, bản sắc tư tưởng nền tảng của chủ nghĩa tự do đang bị tấn công mạnh mẽ.

Dự cảm thấy rằng lập luận khổng lồ của Fukuyama đang gặp phải một trở ngại lớn, những lí thuyết gia của chủ nghĩa tự do cố gắng làm mọi cách để cho con thuyền này không bị đắm. Hàng loạt đầu sách được xuất bản nhằm thổi một luồng gió mới vào chủ nghĩa tự do. Trong số này có quyển Inventing the Individual của Larry Siedentop và Liberalism : The Life of an Idea của Edmund Fawcett là nổi bật hơn cả. Cả hai đều thừa nhận những điểm yếu trong lập luận của Fukuyama đã được bộc lộ trong những sự kiện gần đây. Cả hai đều thừa nhận những trở ngại mà chủ nghĩa tự do đang mắc phải. Nhưng thay vì đề cập trực tiếp đến những trở ngại này, họ lại tìm về quá khứ để tự an ủi. Thông qua việc gọi một tập hợp tùy tiện các tư tưởng là "tự do", họ cố chứng tỏ rằng chủ nghĩa tự do đã từng chiến thắng nhiều tư tưởng đối nghịch trong nhiều thế kỉ qua. Họ đang cố vẽ nên một câu chuyện mới để chứng minh rằng chủ nghĩa tự do là chính đáng. Vì những tư tưởng "tự do" đã chiến thắng, Siedentop và Fawcett lập luận rằng chủ nghĩa tự do là đúng đắn, dù rằng hiện nay có đang gặp khó khăn nhưng rồi vẫn sẽ chiến thắng về sau.

Các nhà lãnh đạo từ nhiều cực chính trị nhanh chóng chấp nhận lập luận mang nặng tính sử luận này. Tại Anh Quốc, chính phủ trung hữu của David Cameron rất tự hào rằng mình theo chủ nghĩa tự do. Chính phủ này cũng không ngần ngại sử dụng lịch sử để nhào nặn một thế hệ cử tri mới theo mẫu hình của chủ nghĩa tự do. Đầu năm nay, cựu bộ trưởng giáo dục của chính quyền này là Michael Gove rao giảng rằng Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là ví dụ của việc những giá trị tự do chiến thắng chủ nghĩa tiền phát-xít của Đức. Đây là "bằng chứng" biện minh cho tính chính đáng không thể chối cãi của loại chủ nghĩa tự do quân sự mà phái bảo thủ mới rất ưa chuộng.

Gần chúng ta hơn chính là Hillary Clinton – người hiện giờ đang trong giai đoạn đầu tiên của cuộc tranh cử úp mở vào Nhà Trắng – đã áp dụng một loại tầm nhìn tương tự trong lĩnh vực đối ngoại. Nhìn nhận những lí tưởng của các nhà lập quốc thông qua một lăng kính màu hồng, bà Clinton đã nhẹ nhàng tách mình ra khỏi chủ nghĩa hiện thực thận trọng của ông Barack Obama. Bà sử dụng khéo léo những liên hệ đến quá khứ để biện minh cho việc "xuất khẩu" những giá trị tự do ra toàn cầu thường xuyên nhất có thể. Theo luận điểm này, vì lịch sử đã chứng minh rằng chủ nghĩa tự do thật tuyệt vời thông qua những chiến thắng trong lịch sử trước cường quyền, chủ nghĩa tự do sẽ lại chiến thắng nếu chúng ta cố gắng ủng hộ và chiến đấu vì nó.

Nhưng dù dạng thức sử luận tự do mới này nghe có một chút xuôi tai thì nó cũng khó có thể thuyết phục được ai. Thay vì thừa nhận điểm yếu trong lập luận ban đầu của Fukuyama, Siedentop, Fawcett, Cameron và Clinton đều khơi dậy lập luận sử luận cũ kĩ, có khác chăng thì chỉ là không đề cập đến khía cạnh kinh tế. Lập luận của họ cũng kém thuyết phục như của Fukuyama.

Chính Karl Popper – triết gia vĩ đại theo trường phái tự do – là người đầu tiên chỉ ra khuyết điểm của thuyết sử luận trong vai trò một dạng biện minh chính trị trong tác phẩm đã đánh tan nát thuyết định mệnh luận Mác-xít và phát-xít của mình. Mỉa mai thay, lập luận tương tự bây giờ lại có thể áp dụng cho chính chủ nghĩa tự do – trường phát mà Popper bảo vệ. Nếu đi theo lập luận của Popper, ta có thể thấy rằng có ít nhất 2 vấn đề logic nghiêm trọng trong cách tiếp cận sử luận đối với chủ nghĩa tự do.

Thứ nhất, đó là lập luận cho rằng bất cứ ai thể hiện, ở bất kì mức độ nào, sự công bằng hay sự quan tâm đối với lương tri của cá nhân đều là người theo chủ nghĩa tự do. Việc cho rằng lịch sử tiến bộ của con người đã phát triển theo một đường thẳng nối giữa Thánh Paul sang Luther, sang các triết gia của Kỉ nguyên Ánh sáng, sang Lloyd George và Jack Kennedy, là rất vô lí. Tất cả những người này đều có một định nghĩa riêng về tự do và mục đích của tự do.

Thứ hai, việc cho rằng có một "định luật lịch sử" quyết định sự phát triển của xã hội là hão huyền. Nếu như thật sự có sự lặp đi lặp lại nào đó trong quá khứ mà ở đó có thể xem tư tưởng "tự do" đã "chiến thắng", thì không thể kết luận gì hơn ngoài việc tò mò về mô hình này. Điều này không thể chứng minh được gì về bản chất của chủ nghĩa tự do và cũng không thể dùng để tiên đoán tương lai. Nó chỉ có thể cho chúng ta biết những điều đã xảy ra trong quá khứ. Việc tìm ý nghĩa hay khả năng tiên đoán tương lai từ những mô hình trong quá khứ thì thật ra chẳng khác nào xem bói qua bã trà.

Những khuyết điểm của cách tiếp cận sử luận trong chủ nghĩa tự do đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa tự do đang cố gắng vực dậy từ khủng hoảng hậu-Fukuyama vì chính những người bảo vệ chủ nghĩa tự do quá lười biếng. Siedentop, Fawcett, Cameron và bà Clinton đều giả định rằng ai có một tí lí trí là phải theo chủ nghĩa tự do. Vì vậy không cần phải bảo vệ chủ nghĩa tự do trước những yếu kém vốn có. Nhưng dù tự vỗ vai bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không thể thuyết phục được những người bất đồng ý kiến. Chính vì sự ngạo mạn trong khoa học này mà ta không ngạc nhiên khi thấy phần lớn thế giới từ bỏ họ. Ta cũng không ngạc nhiên khi thấy người khác từ chối lắng nghe lời cố vấn khôn ngoan của những người theo chủ nghĩa tự do khi thị trường thì đang sụp đổ và các khoản tiết kiệm cả đời đang bị đe dọa bởi các tai nạn của nền kinh tế tư bản thị trường tự do.

Nếu như chủ nghĩa tự do muốn sống sót và phát triển thì phải thoát khỏi lập luận của Fukuyama và thuyết sử luận. Nó phải được định nghĩa lại và bảo vệ lại. Điều này dẫn đến câu hỏi chủ nghĩa tự do thật sự là gì – điều đáng chú ý là nhiều người theo chủ nghĩa tự do đã bỏ qua bước này, tưởng như nó không quan trọng. Trong ấn phẩm gần đây của Foreign Policy xoay quanh việc đánh giá lại di sản của Fukuyama, vấn đề "bản sắc chủ nghĩa tự do" chưa được giải quyết vẫn hiển hiện. Việc hết bài viết này đến bài viết khác thất bại trong việc bảo vệ chủ nghĩa tự do trước chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân túy chính là vì chúng không đưa ra được cách hiểu rõ ràng, thuyết phục về chủ nghĩa tự do hậu-Fukuyama nào. Ta không thể bảo vệ chủ nghĩa tự do trước những phản biện nếu không làm rõ ra rằng chủ nghĩa tự do ủng hộ điều gì. Ta cũng không thể thuyết phục những người còn nghi ngờ nếu như bản thân những người theo chủ nghĩa tự do cũng không thể nói được rằng tư tưởng mới này là gì và nó khác gì so với mớ hỗn độn chẳng đem lại cảm hứng gì của Fukuyama và những người theo sau Fukuyama.

Vì bị bủa vây bởi những câu nói ngớ ngẩn, lảm nhảm và tối nghĩa của các bình luận viên chính trị hiện nay, ta có thể dễ dàng quên mất rằng chủ nghĩa tự do chính là sự cam kết đối với tự do. Ở gốc rễ, tự do là một khái niệm bắt nguồn từ con người cá nhân. Đó là sự tự do được là những gì mình muốn, giúp phát triển đầy đủ những tiềm năng của cá nhân, trở thành một con người có khả năng sáng tạo và khả năng tự đưa ra những đánh giá về giá trị cho chính bản thân mình.

Đúng là tự do đương nhiên có thể được hiểu theo nhiều cách. Theo như quan sát của Isaiah Berlin, còn có tự do tích cực (positive liberty) – tự do được làm điều gì đấy, và tự do tiêu cực (negative liberty) – tự do được thoát khỏi điều gì đấy. Tùy theo hoàn cảnh mà loại tự do nào có giá trị quan trọng hơn. Tuy cách phân biệt này rất phổ biến trong triết học chính trị kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, việc xem lại những bài viết của Voltaire và tác phẩm của nhóm Bách khoa gia Pháp (Encyclopédistes) vào thế kỉ 18 sẽ nhắc cho chúng ta nhớ lại rằng tự do trong nghĩa thuần khiết nhất- cả tiêu cực lẫn tích cực – là sự hiện thực hóa nhân phẩm vốn có của con người.

Đây không hề là những lời hoa mỹ. Khái niệm nhân phẩm có 2 ý nghĩa quan trọng, thậm chí được Cicero thừa nhận vào tận thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, mà hiện nay đang bị quên lãng. Thứ nhất, chúng ta cùng chia sẻ một mức nhân phẩm : không một ai có ít tiềm năng hơn người khác và nhân phẩm của một người không thể ít hơn người khác. Thứ hai, vì chúng ta là con người nên chúng ta có cùng những nhu cầu cơ bản. Theo bản chất, chúng ta cần thức ăn, chốn ở, quần áo, sự an toàn, và một loạt những loại sản phẩm cần cho sự sống còn khác. Mặc dù nghe rất đơn giản, những ý nghĩa này có tác động quan trọng khi chúng ta xem xét làm cách nào tích hợp tự do cá nhân vào các thiết chế xã hội và chính trị. Để tự do của mỗi cá nhân được duy trì và mở rộng, những nền tảng qui tắc về sự công bằng và những lợi ích chung phải được ghi nhận trong nền tảng của cấu trúc xã hội. Vì xã hội được xây dựng dựa trên luật, luật lệ phải thể hiện những tư tưởng này. Sống trong sự tự do tức là sống theo những điều luật dựa trên sự công bằng và lợi ích chung. Nếu như pháp luật đi chệch dù một ít ra khỏi nền tảng này, thì pháp luật trở thành công cụ của các nhóm lợi ích và lợi ích tư. Như vậy, nền tự do sẽ bị mất đi.

Tuy nhiên, nền tự do nói trên sẽ phải phụ thuộc vào đạo đức của công dân, đặc biệt là các quan chức. Mặc dù luật lệ kiến tạo nên xã hội, chính ý chí của những người quản lí và công dân mới là động lực và sắc thái của nó. Chỉ khi mọi người công nhận nhân phẩm của từng cá nhân, họ mới công nhận giá trị tự có của sự công bằng và lợi ích chung. Chỉ khi đấy họ mới cố gắng phấn đấu bảo vệ không chỉ tự do của riêng mình, mà của tất cả những người khác thông qua luật pháp. Nếu cam kết đối với nền tự do sụp đổ, xã hội trở thành một khu rừng mà thân ai lo cho người đấy, lợi ích cá nhân hoàn toàn sẽ chi phối, luật pháp không còn công minh và sự độc tài sẽ chiến thắng tự do.

Tóm lại, nền chính trị tự do phải là một nền chính trị đạo đức. Chủ nghĩa tự do sẽ không có tác dụng nếu đặt nặng vấn đề tự chủ cá nhân lên trên lợi ích của người khác. Chủ nghĩa tự do cũng sẽ không có tác dụng nếu bị phụ thuộc quá nhiều vào chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu thụ. Mô hình của Fukuyama là pha trộn giá trị tự do với lợi ích kinh tế cá nhân. Mô hình này nếu không được kiểm soát sẽ gây hại cho xã hội như trong những năm gần đây. Thay vào đó, một mô hình đặt nặng nhân phẩm cho phép một dạng chính trị có ý nghĩa tích cực hơn – tự bản thân nó chiến đấu để tồn tại. Thay vì thuyết phục bản thân cứ yên tâm rằng chủ nghĩa tự do cuối cùng rồi sẽ chiến thắng, một khái niệm tự do dựa trên nhân phẩm chấp nhận rằng sự thành công của nó không phải là chắc chắn. Mỗi chúng ta mong muốn được tự do ở tầm cá nhân, nhưng tự do cá nhân lại phụ thuộc vào tự do của cả tập thể. Điều này có nghĩa rằng chúng ta đều phải bám lấy nhân tính chung, nhân phẩm chung.

Như vậy, nếu chủ nghĩa tự do có tương lai, thì tương lai đó không phụ thuộc vào thuyết sử luận của Fukuyama hay như gần đây là của Siedentop, Fawcett và Clinton, mà phụ thuộc vào mỗi chúng ta. Tương lai này không phụ thuộc vào kinh tế hay là nhưng đợt sóng của lịch sử. Nó phụ thuộc vào việc công nhận giá trị nhân văn trong mỗi con người.

Timothy Stanley & Alexander Lee

Nguyên tác : " It's Still Not the End of History", The Atlantic, 01/06/2014

Nguyễn Việt Vân Anh biên dịch

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 10/09/2014