2026-06-20T21:30:00Z
Những bất cập về thể chế vẫn là vật cản trong sinh hoạt chính trị-xã hội Việt Nam
Tiêu điểm
Phân tích
Ông Tô Lâm yêu cầu xây dựng thể chế để chống tham nhũng, đâu là các điểm khó ?
BBC, 20/06/2026
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa đưa ra yêu cầu xây dựng thể chế để chống tham nhũng vào ngày 18/6.
Ngày 11/06/2026, ông Tô Lâm, Tổng bí thư – Chủ tịch nước, tổng kết hoạt động của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và kêu gọi tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính.
Theo ông Tô Lâm, chống tham nhũng là để làm sạch quyền lực ; chống tiêu cực và để giữ vững chuẩn mực công vụ ; chống lãng phí và để bảo vệ thời gian, tài sản, cơ hội và nguồn lực phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, những bất cập thuộc về thể chế vẫn là điều cam go, khó thay đổi trong bối cảnh chính trị-xã hội Việt Nam.
Diễn ngôn cũ, liệu có biện pháp mới ?
Các lãnh đạo Việt Nam luôn tuyên bố đẩy mạnh chống tham nhũng. Tương tự, việc xây dựng thể chế, cải cách thể chế để chống tham nhũng cũng đã được nói tới nhiều lần trong nhiều năm qua.
Vào tháng 12/2020, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định Việt Nam cần phải xây dựng cho bằng được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể tham nhũng", một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để "không dám tham nhũng", một cơ chế để "không cần tham nhũng".
Nhiều chuyên gia của Đảng cũng đã đưa ra ý kiến tương tự.
Vào năm 2022, ông Nguyễn Thái Học, khi ấy là Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, khẳng định rằng Việt Nam cần tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo hành lang chính trị, pháp lý để các cá nhân, tổ chức "không thể tham nhũng, tiêu cực".
Cùng lúc ông khẳng định "mấu chốt vấn đề là ở con người, chính sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, cả cán bộ cấp cao mới là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tham nhũng, tiêu cực".
Có thể nói quan niệm này khá nhất quán với ông Nguyễn Phú Trọng – người thường xuyên tập trung vào mặt đạo đức đảng viên, về sự liêm chính trong công tác điều hành của lãnh đạo.
Nhiều câu nói của ông tới nay vẫn được nhắc tới thể hiện rõ tư tưởng "đức trị", kiểu như : "Nếu anh có đạo đức, tư tưởng tốt thì tham ô, tham nhũng làm gì, phải biết khinh bỉ cái đó, biết cái đó là xấu, tránh xa ra", "tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu" hoặc "danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất".
Nhưng dù ông Nguyễn Phú Trọng liên tục kêu gọi các đảng viên của mình "nêu gương", "tu dưỡng đạo đức", tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn tiếp tục trăm hoa đua nở, bằng chứng là các số liệu về cán bộ các cấp bị kỷ luật, xử lý hình sự rất đông đảo trong những năm gần đây.
Từ khi lên nắm quyền tổng bí thư vào tháng 7/2024, ông Tô Lâm không đưa ra các diễn ngôn "đức trị" nhiều như người tiền nhiệm. Thay vào đó, ông đã nhiều lần nhắc tới việc thiết kế thể chế để chống tham nhũng, với tuyên bố ngày 18/6 là một ví dụ. Dưới thời ông Tô Lâm, lần đầu tiên cựu Tứ Trụ bị cách chức dù rằng những người này đã bị xử lý "cho thôi chức" dưới thời ông Trọng.
Khó khăn có thể là gì ?
Một số những yếu tố được đánh giá là nền tảng của thể chế chống tham nhũng là cơ chế kiểm tra và cân bằng quyền lực, xã hội dân sự tự chủ, nguyên tắc pháp quyền mạnh, báo chí độc lập… Đây là những điều rất khó đảm bảo trong nền chính trị một đảng lãnh đạo toàn diện của Việt Nam.
Ở Việt Nam, việc kiểm tra vẫn diễn ra trong nội bộ Đảng chứ không phải do một bên độc lập thực hiện. Cơ chế này thường bị chỉ trích là "vừa đá bóng vừa thổi còi". Vào tháng 9/2025, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho biết công tác phòng chống tham nhũng còn bất cập, thậm chí có vụ việc xảy ra ngay trong cơ quan phòng chống tham nhũng.
Vào năm 2019, một vụ việc được chú ý nhiều là khi thanh tra của Bộ Xây dựng bị khởi tố về tội nhận hối lộ.
Khi đưa tin về sự việc này, VTV viết như sau :
"Trước hết phải thấy rằng vụ việc xảy ra với cán bộ thanh tra của Bộ Xây dựng có đau lòng nhưng không hề bất ngờ, bởi lâu nay nhiều đoàn thanh trang đã để lại điều tiếng, nhũng nhiễu đến mức mà trong dân gian đau xót lưu truyền câu thơ : 'Thanh cha, thanh mẹ, thanh gì, hễ có phong bì thì có thank you'".
Việc thanh tra nội bộ này càng tạo thêm những suy đoán, đánh giá về việc "đấu đá nội bộ" mỗi khi có một cán bộ, quan chức nào đó dính án tham nhũng.
Thêm vào đó, Việt Nam không có tư pháp độc lập.
Thay vì "nhà nước pháp quyền", Việt Nam có khái niệm "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa". Theo luật sư Vũ Đức Khanh, đây là một nỗ lực rõ ràng nhằm dung hòa giữa những nguyên lý phổ quát của quản trị hiện đại với đặc thù lịch sử-chính trị của Việt Nam.
Trong bài viết gửi BBC News Tiếng Việt vào tháng 1/2026, ông Khanh cho rằng tiền đề của mô hình nói trên là : quyền lực nhà nước được xác định là thống nhất, có phân công và phối hợp, nhưng không phân lập. Đảng cộng sản Việt Nam "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp.
Ông cũng nhắc tới việc quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
"Khi cơ quan lập pháp – vốn là một thiết chế chính trị – đồng thời nắm quyền giải thích Hiến pháp, thì nguyên tắc trung lập pháp lý bị đặt vào tình thế mong manh. Nói cách khác, nhà nước vừa làm luật, vừa tự giải thích luật của chính mình, trong khi không tồn tại một trọng tài hiến định độc lập.
"Trong các hệ thống pháp quyền hiện đại, đây được xem là một điểm nghẽn nghiêm trọng, bởi tranh chấp hiến pháp, về bản chất, luôn là tranh chấp bất đối xứng giữa cá nhân và quyền lực công", ông nhận định.
Xã hội dân sự tự chủ là một công cụ chống tham nhũng quan trọng nữa – dù không thể thay thế các chức năng của chính quyền. Một xã hội dân chủ đủ mạnh sẽ giúp tạo ra những kênh giám sát quyền lực bên ngoài nhà nước, qua đó làm tăng khả năng phát hiện và ngăn ngừa tham nhũng.
Đó là những tổ chức phi chính phủ, các nhóm vận động chính sách, hiệp hội nghề nghiệp…
Tuy nhiên, xã hội dân sự đang bị kiểm soát chặt chẽ ở Việt Nam.
Lập hội, nhóm ở Việt Nam rất khó và cần sự cho phép chính quyền. Các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, các hội đoàn ngoài sự quản lý của nhà nước, một khi được thành lập, cũng chịu rất nhiều sự giám sát, nghi kỵ từ công an và các cơ quan chức năng.
Những tổ chức phi chính phủ vận động chính sách, quyền con người, dân chủ, môi trường… gần như đã biến mất khỏi Việt Nam sau khoảng thời gian hoạt động sôi nổi vào nửa đầu thập niên 2010.
Cùng lúc, không gian cho tự do báo chí và tự do ngôn luận ngày càng teo lại ở Việt Nam.
Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) mới đây đã công bố Báo cáo thường niên 2026, trong đó Việt Nam xếp thứ 174 trong tổng số 180 nước về tự do báo chí.
"Ông Tô Lâm đã tiếp tục siết chặt tự do báo chí kể từ khi được bổ nhiệm làm tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 8/2024, tiếp bước người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng", báo cáo này viết.
Nhiều chủ đề ở Việt Nam thuộc dạng "nhạy cảm", đặc biệt là chính trị, được báo chí tường thuật lại theo hướng đã được chỉ đạo. Những bức xúc của người dân về một chính sách hoặc sự kiện nào đó có thể gây bất lợi cho Đảng và Nhà nước cũng bị hạn chế đưa tin.
Phản ứng trước việc chính thức đóng cửa 8 cơ quan báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người trên mạng xã hội cho rằng việc tinh gọn này là đúng vì "báo nào cũng giống nhau, đọc một báo là đủ". Một số người khác thì gọi báo chí Việt Nam là "công cụ tuyên truyền" của Đảng và Nhà nước.
Nhìn rộng ra, không gian cho ngôn luận của công chúng nói chung cũng đang bị thắt chặt hơn so với trước đây, với các biện pháp hành chính và hình sự được áp dụng rộng rãi nhằm chấn chỉnh phát ngôn trên mạng.
Ví dụ, vào cuối tháng Năm, Công an xã Trần Phú (Hà Nội) đã ra quyết định xử phạt hành chính mức 7,5 triệu đồng đối với một người đàn ông ở Hà Nội vì đăng bài viết, hình ảnh "sai sự thật" về việc nắng nóng khiến "thóc phơi ngoài trời nổ thành bỏng". Hoặc việc một người đã bị Công an xã Lê Lợi (Hưng Yên) mời lên làm việc vì "bình luận nội dung có ngôn từ thiếu chuẩn mực lên trang Thông tin Chính phủ".
Dù có một số người cho rằng xử phạt là đúng, số khác nói rằng chính quyền đang mạnh tay trấn áp quyền biểu đạt ý kiến của người dân. Một số người dẫn chứng rằng trong khi các thông tin bịa đặt mà mang tính khen ngợi chính quyền thì không bị phạt, nhưng ngược lại thì bị phạt.
Gần đây hơn là việc xử phạt những người "tương tác" với những trang mạng, tài khoản Facebook mà chính quyền Việt Nam coi là "phản động".
Từ ngày 1/7 tới đây, mức xử phạt cho hành vi đăng thông tin sai sự thật gây hoang mang có thể bị phạt lên tới 50 triệu đồng, theo Nghị định 174.
Các hình phạt gia tăng tạo ra cảm giác bất an, lo ngại, và việc người dân trở nên "phòng thủ" hơn là điều dễ thấy. Đối mặt với nhiều rủi ro hơn khi tố cáo tiêu cực, tham nhũng, người dân sẽ chọn giải pháp an toàn là im lặng.
Nguồn : BBC, 20/06/2026
*****************************
Liệu Việt Nam có thể có một nền tư pháp độc lập hay không ?
Vũ Đức Khanh, BBC, 12/01/2026
Trong nhiều năm qua, khái niệm "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" đã trở thành một trụ cột trong diễn ngôn chính trị-pháp lý chính thức của Việt Nam.
Việt Nam có chấp nhận rằng pháp quyền, nếu đã gọi là pháp quyền, thì phải gắn liền với một nền tư pháp độc lập hay không ?
Nó xuất hiện đều đặn trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Hiến pháp, và trong các chương trình cải cách nhà nước.
Cũng giống như khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", đây là một nỗ lực rõ ràng nhằm dung hòa giữa những nguyên lý phổ quát của quản trị hiện đại với đặc thù lịch sử-chính trị của Việt Nam.
Tuy nhiên, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào trật tự kinh tế và pháp lý toàn cầu, câu hỏi không còn dừng ở mức tuyên ngôn.
Pháp quyền không chỉ là một khái niệm chính trị để khẳng định tính chính danh, mà trở thành một thiết chế vận hành, có thể được kiểm chứng bằng hành vi của hệ thống tư pháp, bằng cách nhà nước xử lý tranh chấp, và bằng mức độ tin cậy mà công dân cũng như nhà đầu tư quốc tế đặt vào luật pháp Việt Nam.
Chính ở điểm này, một câu hỏi không thể né tránh xuất hiện : Việt Nam có chấp nhận rằng pháp quyền, nếu đã gọi là pháp quyền, thì phải gắn liền với một nền tư pháp độc lập hay không ?
Và nếu có, liệu sự độc lập đó có tất yếu làm lung lay Điều 4 Hiến pháp, tức vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hay vẫn có thể được dung hòa trong một giai đoạn quá độ có kiểm soát ?
Pháp quyền và ranh giới của quyền lực
Trong truyền thống lý luận chính trị hiện đại, dù ở phương Tây hay trong các xã hội Châu Á đã thành công trong hiện đại hóa, "nhà nước pháp quyền" không được hiểu đơn thuần là nhà nước có nhiều luật.
Ngược lại, pháp quyền xuất phát từ một giả định căn bản : quyền lực, nếu không bị ràng buộc, sẽ có xu hướng tự mở rộng và tự biện minh cho chính nó.
Do đó, pháp quyền ra đời như một cơ chế giới hạn quyền lực, chứ không phải công cụ phục vụ quyền lực.
Ba trụ cột cốt lõi của nhà nước pháp quyền vì thế tương đối ổn định qua thời gian và không gian : tính tối cao của Hiến pháp ; một nền tư pháp độc lập với quyền lực chính trị ; và một cơ chế bảo hiến hữu hiệu để giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và công dân, cũng như giữa các nhánh quyền lực với nhau.
Trong khi đó, mô hình "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam được xây dựng trên một tiền đề khác.
Quyền lực nhà nước được xác định là thống nhất, có phân công và phối hợp, nhưng không phân lập.
Đảng cộng sản Việt Nam "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", được hiến định tại Điều 4.
Pháp luật, trong mô hình này, vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là phương tiện thể chế hóa đường lối chính trị.
Chính sự khác biệt trong tiền đề này dẫn đến một căng thẳng nội tại: liệu pháp quyền có thể thực sự đóng vai trò giới hạn quyền lực khi quyền lực chính trị đứng bên ngoài – hoặc đứng cao hơn – cơ chế tài phán hay không?
Quyền giải thích Hiến pháp và khoảng trống bảo hiến
Khoản 2 Điều 74 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trên danh nghĩa, đây là một cơ chế phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất.
Tuy nhiên, xét dưới góc độ pháp quyền, nó đặt ra một vấn đề nền tảng.
Giải thích Hiến pháp không phải là một thao tác kỹ thuật thuần túy.
Đó là hành vi quyền lực ở mức cao nhất, bởi nó quyết định giới hạn của quyền lực nhà nước và phạm vi bảo vệ quyền công dân.
Khi cơ quan lập pháp – vốn là một thiết chế chính trị – đồng thời nắm quyền giải thích Hiến pháp, thì nguyên tắc trung lập pháp lý bị đặt vào tình thế mong manh.
Nói cách khác, nhà nước vừa làm luật, vừa tự giải thích luật của chính mình, trong khi không tồn tại một trọng tài hiến định độc lập.
Trong các hệ thống pháp quyền hiện đại, đây được xem là một điểm nghẽn nghiêm trọng, bởi tranh chấp hiến pháp, về bản chất, luôn là tranh chấp bất đối xứng giữa cá nhân và quyền lực công.
Việc Việt Nam chưa thiết lập một cơ chế tài phán hiến pháp độc lập vì thế không chỉ là một lựa chọn kỹ thuật, mà phản ánh giới hạn cấu trúc của mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện hành.
Soi chiếu từ thế giới : Pháp quyền không phải là đặc quyền của phương Tây
Khi đặt vấn đề cải cách tư pháp, đặc biệt là thiết lập tòa án hiến pháp, phản ứng quen thuộc thường là lo ngại về "đa nguyên, đa đảng", về sự "chính trị hóa tư pháp", hoặc về nguy cơ "diễn biến hòa bình".
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy mối liên hệ giữa tư pháp độc lập và ổn định chính trị phức tạp hơn nhiều so với những lo ngại đó.
Tại Pháp và Bỉ, các thiết chế bảo hiến như Hội đồng Hiến pháp hay Tòa án Hiến pháp được xây dựng nhằm bảo vệ trật tự hiến định, chứ không phải để đối đầu với quyền lực chính trị.
Ở Hàn Quốc và Indonesia – những quốc gia từng có giai đoạn phát triển dưới các chế độ tập trung quyền lực mạnh – việc thiết lập tòa án hiến pháp không làm nhà nước sụp đổ, mà ngược lại, góp phần tái lập niềm tin xã hội và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Ngay tại Châu Á, những mô hình như Nhật Bản hay Singapore cho thấy một thực tế quan trọng: tư pháp độc lập không đồng nghĩa với tự do chính trị vô hạn, nhưng là điều kiện không thể thiếu để đảm bảo tính dự đoán và độ tin cậy của hệ thống pháp luật.
Singapore kiểm soát chính trị rất chặt chẽ, song lại đặc biệt chú trọng đến sự độc lập của tòa án trong các tranh chấp thương mại và hiến định – chính điều đó tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho đầu tư.
Các quốc gia Mỹ Latinh như Mexico, Brazil hay Chile cũng đi qua những quá trình cải cách tư pháp sâu rộng không phải vì áp lực ý thức hệ, mà vì nhu cầu hội nhập và giảm rủi ro pháp lý trong một thế giới toàn cầu hóa.
Việt Nam trong thế tiến thoái lưỡng nan của hội nhập
Việt Nam ngày nay không còn là một nền kinh tế đóng.
Với vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam đang cạnh tranh không chỉ bằng chi phí lao động, mà bằng độ tin cậy của thể chế.
Trong bối cảnh đó, sự mơ hồ về pháp quyền trở thành một rủi ro chiến lược.
Khi tư pháp không đủ độc lập để giải quyết tranh chấp lớn, các doanh nghiệp và nhà đầu tư buộc phải tìm đến các cơ chế ngoài hệ thống: quan hệ chính trị, bảo lãnh hành chính, hoặc trọng tài quốc tế.
Điều này không chỉ làm tăng chi phí giao dịch, mà còn làm xói mòn chủ quyền pháp lý quốc gia.
Ở đây, mâu thuẫn không còn là giữa "xã hội chủ nghĩa" và "tư bản chủ nghĩa", mà là giữa logic của hội nhập toàn cầu và logic của một mô hình pháp quyền chưa hoàn chỉnh.
Tư pháp độc lập có phá vỡ Điều 4 Hiến pháp hay không ?
Đây là điểm then chốt của toàn bộ cuộc tranh luận.
Một giả định phổ biến cho rằng : nếu trao cho tư pháp quyền độc lập thực sự, đặc biệt là quyền bảo hiến, thì vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị thách thức trực tiếp. Tuy nhiên, giả định này không phải là một logic tất yếu.
Về mặt lý luận, Điều 4 Hiến pháp xác lập vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng, chứ không quy định Đảng là chủ thể tài phán.
Lãnh đạo chính trị và xét xử pháp lý là hai phạm trù khác nhau.
Việc phân tách chúng không nhất thiết làm suy yếu quyền lực chính trị, mà có thể giúp phi chính trị hóa tư pháp, qua đó tăng cường tính chính danh của toàn bộ hệ thống.
Nhiều quốc gia cho thấy một khả năng dung hòa : đảng cầm quyền giữ vai trò trung tâm trong hoạch định chiến lược quốc gia, trong khi chấp nhận để tư pháp độc lập giải quyết tranh chấp pháp lý, kể cả tranh chấp hiến pháp.
Trong cách tiếp cận này, tư pháp không phải là đối thủ của chính trị, mà là cơ chế ổn định hóa chính trị.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa : điểm đến hay giai đoạn quá độ ?
Từ góc nhìn này, có lẽ câu hỏi quan trọng nhất không phải là Việt Nam có từ bỏ "pháp quyền xã hội chủ nghĩa" hay không, mà là : mô hình đó được xem là điểm đến cuối cùng, hay chỉ là một giai đoạn quá độ trong tiến trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền ?
Nếu pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thể giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa quyền lực chính trị và tư pháp độc lập, thì nó khó có thể trở thành nền tảng bền vững cho một quốc gia hội nhập sâu vào trật tự toàn cầu.
Ngược lại, nếu được nhìn nhận như một giai đoạn chuyển tiếp – trong đó các thiết chế bảo hiến và tư pháp độc lập từng bước được xây dựng – thì nó có thể đóng vai trò cầu nối giữa ổn định chính trị và hiện đại hóa thể chế.
Lựa chọn không thể trì hoãn
Cuối cùng, vấn đề không nằm ở thuật ngữ, mà ở thực chất.
Một nhà nước có thể gọi mình bằng nhiều tên khác nhau, nhưng pháp quyền chỉ tồn tại khi quyền lực chấp nhận bị ràng buộc bởi luật pháp, và khi tư pháp đủ độc lập để thực thi sự ràng buộc đó.
Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn chiến lược.
Không phải lựa chọn giữa Đảng và pháp quyền, mà là lựa chọn giữa một mô hình pháp quyền khép kín và một con đường tiệm tiến để hoàn thiện nhà nước pháp quyền trong bối cảnh hội nhập.
Sự lựa chọn này sẽ quyết định không chỉ niềm tin của nhà đầu tư hay cộng đồng quốc tế, mà sâu xa hơn, là chất lượng quan hệ giữa nhà nước và công dân trong nhiều thập niên tới.
Nếu pháp quyền là một cam kết nghiêm túc, thì tư pháp độc lập không thể chỉ là một khẩu hiệu bị trì hoãn vô thời hạn.
Nó phải trở thành một phần của tầm nhìn quốc gia – được thiết kế cẩn trọng, triển khai từng bước, nhưng không né tránh câu hỏi cốt lõi về giới hạn của quyền lực.
Vũ Đức Khanh
Nguồn : BBC, 12/01/2026
---------------------
Tác giả Vũ Đức Khanh hiện sống tại Canada, là luật sư và nhà tiểu luận chuyên về chính trị Việt Nam và Canada, quan hệ quốc tế và luật pháp quốc tế.