2026-05-29T19:00:00Z
Đối thoại Shangri-la : quan điểm của Việt Nam
Tiêu điểm
Phân tích
Ông Tô Lâm phát biểu tại Shangri-La : Đâu sẽ là điểm nhấn đáng chú ý ?
BBC, 29/05/2026
Ông Tô Lâm sẽ có bài phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-la vào hôm nay 29/5. Điều này có ý nghĩa thế nào ?
Bài phát biểu của ông Tô Lâm dự kiến nói về định hướng để các nước tham gia có thể tiếp tục các cuộc đối thoại như vậy trong tương lai
Shangri-la là diễn đàn quốc phòng thường niên lớn nhất Châu Á. Sự kiện lần này diễn ra từ ngày 29/5 tới ngày 31/5.
Đây là lần đầu tiên một tổng bí thư, chủ tịch nước Việt Nam có bài phát biểu dẫn đề tại diễn đàn này. Vào năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng phát biểu tại sự kiện này, trong đó ông nhấn mạnh rằng các nước cần "tăng cường xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược".
Về nội dung, bài phát biểu của ông Tô Lâm dự kiến nói về định hướng để các nước tham gia có thể tiếp tục các cuộc đối thoại như vậy trong tương lai.
Việc tham gia sự kiện lần này nằm trong xu hướng ngoại giao chủ động, tích cực tham gia vào các diễn đàn đa phương, tận dụng các chuyến công du để chia sẻ tầm nhìn của Việt Nam dưới thời ông Tô Lâm.
Trong tháng Hai, ông Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp nhà nước tới Lào và Campuchia, rồi sau đó tham dự cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Hòa bình, một sáng kiến của Tổng thống Donald Trump. Tới tháng Tư, ông đi thăm Trung Quốc, rồi tới Ấn Độ và Sri Lanka vào tháng Năm.
Chuyến đi tới Singapore lần này nằm trong đợt công du qua ba nước Thái Lan-Singapore-Philippines, từ ngày 27/5 và dự kiến tới ngày 1/6.
Đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong các trụ cột mà ông Tô Lâm đề ra để đưa Việt Nam tiến vào "kỷ nguyên mới".
Vị thế của Việt Nam
Phát biểu với báo Dân trí, Giáo sư Vũ Minh Khương cho rằng phát biểu của ông Tô Lâm sẽ đặt nền tảng tư duy và khuôn khổ thảo luận cho diễn đàn.
"Tại Đối thoại Shangri-La, những khái niệm và thông điệp được các nhà lãnh đạo đưa ra trong phát biểu dẫn đề thường được chú ý và nhắc lại nhiều về sau", ông nói và dẫn những bài phát biểu dẫn đề trước đây như của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi.
Ông Khương không phải là một tiếng nói tán dương đơn lẻ.
Hàng loạt bài viết trên báo chí Việt Nam khẳng định việc ông Tô Lâm phát biểu thể hiện sự coi trọng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với vai trò, vị thế và uy tín ngày càng tăng của Việt Nam và bản thân ông Tô Lâm.
Trong khi đó, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp có bài viết vào ngày 26/5 trên trang Fulcrum của Viện nghiên cứu ISEAS ở Singapore rằng có ít nhất hai lý do để ông Tô Lâm tới phát biểu tại sự kiện này.
Đầu tiên là nhu cầu khẳng định và chính danh hóa vai trò lãnh đạo, nhắc tới việc ông Tô Lâm giữ hai chức danh tổng bí thư và chủ tịch nước.
"Đi kèm với sự tập trung quyền lực đó là cả cơ hội lẫn tính dễ tổn thương. Một hồ sơ đối ngoại tích cực đóng vai trò như một cơ chế xác nhận quan trọng : một nhà lãnh đạo được nhìn nhận là đang thúc đẩy lợi ích quốc gia tại các diễn đàn cấp cao sẽ thu nhận được uy tín chính trị, qua đó củng cố vị thế trong nước", ông Hiệp nói.
Ông Tô Lâm giữ hai chức vụ này từ ngày 7/4. Kể từ đó, đã có những đánh giá cho rằng ông Tô Lâm đang nắm giữ quá nhiều quyền lực trong chính trường Việt Nam.
Một trong những lợi thế dễ thấy nhất của việc giữ chức vụ nguyên thủ quốc gia là sự thuận lợi trong công tác đối ngoại.
Theo ông Hiệp, tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào sự hiệu quả và cảm nhận công chúng nên việc tạo dựng vị thế và sự tôn trọng trên trường quốc tế không đơn thuần là vấn đề hình ảnh, mà là một dạng vốn chính trị.
Một khía cạnh khác mà ông Hiệp đề cập tới là kinh tế, cho rằng đây là cơ hội tốt để ông Tô Lâm thể hiện Việt Nam là một quốc gia ổn định chính trị và có định hướng cải cách.
Từ khi lên nắm quyền, ông Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh tới việc chú trọng phát triển kinh tế, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Theo ông Hiệp, để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần thu hút lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng tiếp cận thị trường và tiếp thu chuyển giao công nghệ để nâng cấp chuỗi giá trị – những mục tiêu ông cho rằng không thể chỉ đạt được bằng chính sách nội địa.
Liên quan tới vấn đề này, báo cáo mới nhất do Ngân hàng Thế giới công bố hôm 15/5 dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ chậm lại trong năm 2026, với mức 6,8%.
Ngoài ra, yếu tố địa chính trị cũng được ông Hiệp đề cập tới, tương tự nhiều chuyên gia khác trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc vẫn có những bất đồng về yêu sách chủ quyền trên Biển Đông và thế giới trải qua những hỗn loạn từ những cuộc chiến ở Ukraine và Iran.
Tại Đối thoại Shangri-La 2025 diễn ra ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang đã bày tỏ lo ngại về sự trỗi dậy của tư tưởng cường quyền, chủ nghĩa dân tộc và nguy cơ chạy đua vũ trang, xung đột quân sự.
"Sự trỗi dậy của tư tưởng cường quyền và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đang thách thức luật pháp quốc tế, đồng thời làm xói mòn các thể chế đa phương, cũng như lòng tin vào hợp tác toàn cầu", ông nói.
Trọng tâm thực sự
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tới Singapore, ảnh chụp ngày 29/5
Theo Reuters, chiến sự tại Iran, căng thẳng leo thang quanh Đài Loan và những cam kết của Mỹ ở Châu Á nhiều khả năng sẽ chi phối chương trình nghị sự của Đối thoại Shangri-La ở Singapore trong tuần này.
Giới quan sát cho rằng tâm điểm chú ý sẽ đổ dồn vào Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth khi ông phát biểu trong bối cảnh các nỗ lực nhằm chấm dứt cuộc chiến tại Iran đang đình trệ.
Theo lịch trình được đăng tải trên trang web của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), ông Hegseth sẽ phát biểu vào sáng ngày 30/5 theo giờ địa phương.
Chủ đề của bài phát biểu là "Chiến lược của Hoa Kỳ về hòa bình tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương".
"Sẽ còn tiếp tục tồn tại những lo ngại nhất định về tính khó đoán và biến động trong chính sách của Mỹ, cũng như những hệ lụy đối với sự ổn định", ông Chong Ja Ian, nhà khoa học chính trị tại Đại học Quốc gia Singapore, nhận định với Reuters.
Cuộc chiến với Iran đã đẩy nền kinh tế toàn cầu vào tình trạng xáo trộn, làm giá dầu tăng cao và gia tăng áp lực lạm phát đối với các nền kinh tế Châu Á phụ thuộc vào nhập khẩu.
"Vấn đề cấp bách nhất đối với Châu Á sẽ là xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, cùng những tác động của nó đối với nguồn cung năng lượng", ông nói với Reuters.
Bà Meia Nouwens thuộc IISS cho rằng các diễn biến an ninh hiện đang tác động trực tiếp đến dòng chảy năng lượng và sự ổn định kinh tế ở Châu Á.
"An ninh… đang tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, các dòng chảy năng lượng tới khu vực này và điều đó ảnh hưởng tới các nền kinh tế cũng như tăng trưởng", bà nói với chương trình Asia First của CNA hôm 29/5.
"Tôi cho rằng nhiều quốc gia sẽ đặt ra những câu hỏi về vấn đề này tại Đối thoại Shangri-La, cũng như các câu hỏi liên quan đến cam kết đối với khu vực này", bà Meia Nouwens, nghiên cứu viên cấp cao về chính sách an ninh và quốc phòng Trung Quốc, nhận định.
Dự kiến, cam kết của Mỹ đối với Đài Loan sẽ là một nội dung rất được quan tâm.
Liên quan tới vấn đề này, một bản đánh giá chiến lược do IISS công bố cho rằng xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến Đài Loan có thể làm dấy lên nguy cơ leo thang hạt nhân khi quân đội hai bên nhiều khả năng sẽ triển khai các chiến dịch quy mô lớn nhằm vào các trung tâm chỉ huy và thông tin liên lạc của đối phương.
"Các quốc gia trong khu vực và những nước có lợi ích chiến lược đang mở rộng kho vũ khí hạt nhân, trong khi các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân theo đuổi năng lực tấn công thông thường tầm xa ; cả hai xu hướng đều đặt ra thách thức đối với ổn định chiến lược", bản đánh giá của IISS nêu.
Theo IISS, thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân mới, "với Châu Á-Thái Bình Dương là tâm điểm".
Vào ngày 22/5, Mỹ cho biết đang tạm dừng bán vũ khí cho Đài Loan.
Nguồn : BBC, 29/05/2026
***************************
Chủ động kiến tạo hòa bình, ổn định, trong một thế giới nhiều biến động
Bài phát biểu của Tổng bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm tại diễn đàn Shangri-la, Singapore, ngày 29/05/2026
Ông Tô Lâm, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam, phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore ngày 29/5
Thưa Ngài Lo-ren-xơ Uông (Lawrence Wong), Thủ tướng nước chủ nhà Xin-ga-po,
Thưa Tiến sĩ Ba-sơ-ti-an Ghi-gơ-rích (Bastian Giegerich), Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (International Institute for Strategic Studies - IISS),
Thưa quý vị và các bạn.
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Xin-ga-po (Singapore) và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hoá giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề :
Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là :
Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe doạ sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế- xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hoá, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe doạ sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hoá thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xoá bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Thưa quý vị,
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại Châu Á-Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hoá, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, Châu Á-Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải. Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường. Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia. Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hoá thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có. Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung. Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Phi-líp-pin trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm hoạ, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hoá xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, Châu Á-Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: Châu Á-Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần tuý của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Thưa quý vị,
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của Châu Á -Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Thưa quý vị,
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hoá thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một Châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Xin trân trọng cảm ơn !
Tô Lâm
******************************
Đối thoại Shangri-La : Việt Nam cảnh báo chạy đua vũ trang, Mỹ-Trung đối đầu
BBC, 01/06/2025
Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang bày tỏ lo ngại về sự trỗi dậy của tư tưởng cường quyền, chủ nghĩa dân tộc và nguy cơ chạy đua vũ trang, xung đột quân sự. Trong khi đó, Mỹ và Trung Quốc lên tiếng chỉ trích lẫn nhau về phương thức ngoại giao của đối phương ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Từ trái qua phải : Đại diện của Việt Nam (Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang), Trung Quốc (Phó Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng Trung Quốc Hồ Cương Phong) và Mỹ (Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth).
"Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, sâu sắc, mở rộng về không gian, phạm vi, gia tăng về cường độ, cũng như tính đối đầu. Nguy cơ chạy đua vũ trang, xung đột quân sự cũng ngày càng căng thẳng.
"Sự trỗi dậy của tư tưởng cường quyền và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đang thách thức luật pháp quốc tế, đồng thời làm xói mòn các thể chế đa phương, cũng như lòng tin vào hợp tác toàn cầu", Đại tướng Phan Văn Giang có đoạn phát biểu vào hôm 31/5 tại Đối thoại Shangri-La 2025 diễn ra ở Singapore.
Cùng ngày, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã kêu gọi các đồng minh trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng sau khi cảnh báo về mối đe dọa "thực sự và có thể cận kề" từ Trung Quốc.
Trung Quốc đã phủ nhận những tuyên bố này, cho rằng một số tuyên bố của ông Hegseth là bịa đặt và "nhằm kích động rối ren, chia rẽ, đối đầu và gây mất ổn định cho Châu Á - Thái Bình Dương", theo South China Morning Post (SCMP).
Trước đó vào ngày 30/5, Thủ tướng Pháp Emmanuel Macron kêu gọi xây dựng các liên minh mới giữa Pháp và các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong bối cảnh Mỹ - Trung chia rẽ.
Sau bài phát biểu, ông Giang đã có cuộc gặp với một số quan chức cấp cao như ông Hegseth, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Chan Chun Sing, Bộ trưởng Quốc phòng New Zealand Judith Collins…
Việt Nam nói gì ?
Tại đây, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang kêu gọi các nước, bất kể lớn hay nhỏ, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và tôn trọng luật pháp quốc tế. Theo đó tôn trọng sự bình đẳng, quyền độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia, dân tộc.
Ông Giang cũng nhắc tới vấn đề Biển Đông, một lần nữa bày tỏ mong muốn các quốc gia trong khu vực có thể xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) – một cam kết mang tính ràng buộc hơn Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Đây là một diễn ngôn tương đối quen thuộc của Việt Nam, được lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua, tại các diễn đàn và bối cảnh khác nhau.
Lần gần nhất ông Giang đại diện Việt Nam tới diễn đàn này là vào khoảng ba năm trước. Khi đó, bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng đã nhắc tới mong muốn xây dựng COC ở khu vực.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng và tạo dựng đồng thuận đối với COC luôn gặp trắc trở, chủ yếu do Trung Quốc không sẵn sàng tham gia một cam kết mạnh với các nước yếu hơn, thứ có thể khiến họ bị "trói chân trói tay".
Trong thời gian khoảng một tháng qua, Trung Quốc liên tục tập trận trên Biển Đông, trong lúc uy tín của Mỹ ở khu vực đang bị ảnh hưởng do những mức thuế quan nặng nề mà Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố vào đầu tháng Tư.
Bên cạnh đó, ông Giang cũng cho rằng các quốc gia cần có thiện chí và nhu cầu ổn định để hợp tác cùng phát triển, bằng cách cần xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược, sự tin cậy chính trị, tránh nguy cơ tính toán và hành động chiến lược sai lầm.
Vị tướng quân đội này khẳng định Việt Nam luôn thực hiện đường lối đối ngoại sẵn sàng tham gia, ủng hộ các cơ chế và là thành viên có trách nhiệm, vì mục đích duy trì ổn định, hợp tác cùng phát triển.
Đối thoại Shangri-La diễn ra trong lúc có những thông tin về việc Việt Nam mua ít nhất 24 tiêm kích F-16 của Mỹ xuất hiện trên trang tin quốc phòng 19FortyFive vào giữa tháng Tư.
Nhận định với BBC News Tiếng Việt vào tháng Năm, Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm, cho rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ tức giận nếu một thương vụ F-16 giữa Việt Nam và Mỹ xảy ra, không chỉ vì điều này sẽ trao cho Washington một lợi thế, khi các chuyên gia quân sự và kỹ thuật viên Mỹ sẽ có thể liên tục ra vào Việt Nam để hỗ trợ quá trình chuyển giao.
Theo các chuyên gia, việc sở hữu chiến đấu cơ F-16 sẽ mang lại năng lực tấn công bất kỳ vị trí nào ở Biển Đông cho Việt Nam, cũng như khả năng tấn công nhiều mục tiêu – trên bộ, trên biển và trên không.
"Điều đó sẽ tạo ra một rào cản lớn nếu Trung Quốc muốn sử dụng vũ lực. Đó cũng là lý do vì sao Trung Quốc từng phản ứng gay gắt với Philippines khi nước này mua F-16", Giáo sư Thayer nói.
Khoảng hai tháng trước, Trung Quốc đã lên tiếng chỉ trích khi Philippines công bố ý định mua F-16 từ Mỹ.
Tuy nhiên, so với thái độ của Philippines với Trung Quốc, có thể nói Việt Nam có cách ứng phó mềm mỏng hơn. Với vị thể đồng minh của Mỹ, Philippines đã nhiều lần bị Trung Quốc nói rằng là quân cờ trong khu vực của Washington.
Ngoài những chủ đề trên, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang còn nhắc tới một số thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, khủng bố, tội phạm ma túy, buôn người... Ông cho rằng hợp tác giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống sẽ tác động tích cực đến hợp tác giải quyết các thách thức an ninh truyền thống.
Theo Tuổi Trẻ Online, trong cuộc gặp sau đó giữa ông Giang, ông Hegseth đã bày tỏ mong muốn Việt Nam và Mỹ tăng cường hợp tác quốc phòng, nhất là trong khắc phục hậu quả chiến tranh.
Mỹ và Trung Quốc chỉ trích lẫn nhau
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth hôm 31/5 đã cảnh báo rằng mối đe dọa từ Trung Quốc là có thật và có thể sắp xảy ra, đồng thời kêu gọi các đồng minh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tăng chi tiêu cho nhu cầu quốc phòng của chính họ, theo Reuters.
"Không có lý do gì để nói giảm nói tránh. Mối đe dọa từ Trung Quốc là có thật, và có thể cận kề", ông Hegseth nói. Đây được đánh giá là một trong những phát biểu mạnh mẽ nhất của ông Hegseth về Trung Quốc kể từ khi nhậm chức vào tháng Một.
Ngoài ra, ông Hegseth cũng khẳng định rằng bất kỳ nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm thôn tính Đài Loan "sẽ dẫn đến những hậu quả tàn khốc đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và thế giới", đồng thời nhắc lại tuyên bố của ông Trump rằng Trung Quốc sẽ không xâm lược Đài Loan khi ông còn đương nhiệm.
"Cần phải làm rõ cho tất cả thấy rằng Bắc Kinh đang nghiêm túc chuẩn bị cho khả năng sử dụng vũ lực quân sự nhằm thay đổi cán cân quyền lực tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương", ông Hegseth nói thêm.
Trung Quốc gọi những phát biểu này là "đầy tính khiêu khích và kích động", theo Reuters.
Đối thoại Shangri-La được đánh giá đã trở thành diễn đàn chính để các bộ trưởng quốc phòng Mỹ và Trung Quốc gặp nhau — đặc biệt trong bối cảnh hơn một thập kỷ qua, cả hai bên đều không cử quan chức quốc phòng cấp cao nhất đến thăm nước kia.
Tuy nhiên, trái với truyền thống, Trung Quốc đã không cử Bộ trưởng Quốc phòng Đổng Quân tới tham dự mà là ông Hồ Cương Phong, Phó Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng Trung Quốc.
Trong một phiên thảo luận diễn ra vào chiều ngày 31/5, ông Hồ cho rằng bài phát biểu của ông Hegseth chứa đựng "những cáo buộc vô căn cứ nhằm vào Trung Quốc", đồng thời nêu nhận định một số tuyên bố của ông Hegseth là bịa đặt và "nhằm kích động rối ren, chia rẽ, đối đầu và gây mất ổn định cho Châu Á - Thái Bình Dương", theo SCMP.
Theo hãng tin DW của Đức, Mỹ coi việc Trung Quốc không cử đại diện cấp cao tới tham dự là một cơ hội, thể hiện qua lời phát biểu của ông Hegseth : "Chúng tôi không thể kiểm soát việc Trung Quốc có tham gia hay không. Điều duy nhất chúng tôi biết là chúng tôi có mặt ở đây. Và chúng tôi sẽ luôn có mặt ở đây".
Đại sứ quán Trung Quốc tại Singapore cũng đã lên tiếng chỉ trích bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.
"Ông Hegseth liên tục bôi nhọ và công kích Trung Quốc, không ngừng thổi phồng cái gọi là 'mối đe dọa từ Trung Quốc'", cơ quan này viết trên trang Facebook.
"Trên thực tế, chính Mỹ mới là 'kẻ gây rối' lớn nhất đối với hòa bình và ổn định khu vực".
Ông Hegseth kêu gọi các đồng minh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tăng chi tiêu cho nhu cầu quốc phòng của chính họ
Sau đó, Trung Quốc cũng đã gửi công hàm cho Mỹ, chỉ trích tuyên bố của bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là mang tính "phỉ báng", đồng thời cáo buộc Mỹ cố tình phớt lờ lời kêu gọi hòa bình từ các quốc gia trong khu vực.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết thêm, nước này phản đối việc ông Hegseth gọi Trung Quốc là mối đe dọa ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, mô tả bình luận của ông Hegseth tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào hôm 31/5 là "đáng trách" và "nhằm mục đích gây chia rẽ".
"Ông Hegseth cố tình phớt lờ lời kêu gọi hòa bình và phát triển của các quốc gia trong khu vực, thay vào đó lại rao giảng tâm lý Chiến tranh Lạnh về đối đầu khối, bôi nhọ Trung Quốc bằng những cáo buộc vu khống, và gọi sai Trung Quốc là 'mối đe dọa'", Bộ này cho biết trên trang web chính thức của mình.
"Hoa Kỳ đã triển khai vũ khí tấn công ở Biển Đông và liên tục đổ thêm dầu vào lửa, tạo ra căng thẳng ở Châu Á-Thái Bình Dương, khiến khu vực này trở nên căng thẳng", Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói thêm trong tuyên bố.
Theo Reuters, năm nay, Mỹ đã triển khai các bệ phóng Typhon có khả năng phóng tên lửa tấn công các mục tiêu ở cả Trung Quốc và Nga từ đảo Luzon của Philippines – đồng minh lâu năm của Mỹ tại Đông Nam Á.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng nhắc tới vấn đề Đài Loan và cảnh báo Hoa Kỳ không nên "đùa với lửa".
"Không một quốc gia nào trên thế giới xứng với danh xưng bá quyền ngoài chính nước Mỹ — quốc gia cũng chính là yếu tố chủ yếu đang làm xói mòn hòa bình và ổn định ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương", tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc có đoạn.
Bên cạnh đó, Reuters cho rằng những bình luận của ông Hegseth về việc các đồng minh cần tăng chi tiêu quốc phòng có thể sẽ gây lo ngại cho một số đối tác.
Trước đây, ông Hegseth đã nhiều lần chỉ trích các đồng minh ở Châu Âu vì không chi nhiều hơn cho quốc phòng của chính họ. Hồi tháng 2/2025, ông từng cảnh báo Châu Âu không nên coi Mỹ như một "kẻ ngây thơ" khi phát biểu tại cuộc họp báo ở trụ sở NATO tại Brussels.
Liên quan tới vấn đề này, theo một báo cáo do Tổ chức Khủng hoảng Quốc tế (ICG) công bố vào ngày 15/5, những động thái của Trung Quốc cùng với tín hiệu thiếu nhất quán từ phía Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump đang làm dấy lên lo ngại trong giới đồng minh và đối tác tại Châu Á rằng Washington có thể không còn là một chỗ dựa đáng tin cậy cho an ninh khu vực.
Báo cáo này cho rằng chính nhận thức này đã dẫn đến việc gia tăng quân sự hóa trên toàn khu vực – một xu hướng được cho là sẽ còn tiếp diễn mạnh mẽ hơn
Vào hôm 23/5, theo South China Morning Post, khi phát biểu tại một sự kiện trực tuyến về báo cáo nói trên, bà Lê Thu Hương – phó giám đốc chương trình Châu Á của ICG – nhận định rằng tình trạng khó lường trong cục diện địa chính trị hiện nay "đã trở thành trạng thái bình thường mới".
Một liên minh mới ?
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hôm 30/5 tuyên bố rằng sự chia rẽ giữa Mỹ và Trung Quốc là rủi ro chính mà thế giới đang phải đối mặt, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng các liên minh mới giữa Pháp và các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Ông cho rằng Châu Âu và Châu Á nên hình thành "liên minh tích cực mới" dựa trên các nguyên tắc chung, an ninh, quốc phòng và thương mại, tách biệt khỏi sự đối đầu giữa hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc, theo tờ The Guardian của Anh.
"Chúng ta đang sống trong thời kỳ khủng hoảng và cần những cách thức hợp tác mới", ông Macron nhận định.
"Thách thức then chốt của chúng ta là làm thế nào để bảo vệ hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong bối cảnh hiện tại.
"Chúng ta đang đối mặt với những quốc gia theo chủ nghĩa xét lại (revisionist) muốn áp đặt, mượn danh nghĩa các vùng ảnh hưởng để áp đặt các vùng cưỡng ép. Những quốc gia muốn kiểm soát các khu vực từ vùng ven Châu Âu đến các quần đảo ở Biển Đông … muốn chiếm đoạt tài nguyên, dù là đánh bắt cá hay khoáng sản, và đẩy lùi người khác để phục vụ lợi ích của mình", tổng thống Pháp nêu.
Tổng bí thư Tô Lâm và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Ông Macron đang có chuyến thăm khu vực trong bối cảnh Pháp và Liên Hiệp Châu Âu (EU) muốn tăng cường quan hệ thương mại với Châu Á để bù đắp những bất ổn do các biện pháp áp thuế toàn cầu mạnh mẽ của ông Trump gây ra.
"Tôi sẽ nói rõ, Pháp là bạn và là đồng minh của Mỹ, và cũng là bạn và hợp tác – dù đôi khi có bất đồng và cạnh tranh – với Trung Quốc", Reuters dẫn phát biểu của ông Macron tại Đối thoại Shangri-La.
"Bạn phải chọn một bên. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ giết chết trật tự toàn cầu, và chúng ta sẽ phá hủy có hệ thống tất cả các tổ chức mà chúng ta đã xây dựng sau Chiến tranh Thế giới thứ hai nhằm duy trì hòa bình và thúc đẩy hợp tác về y tế, khí hậu, nhân quyền và nhiều lĩnh vực khác", ông Macron nói thêm.
Tổng thống Pháp cho rằng Châu Á và Châu Âu có lợi ích chung trong việc ngăn chặn sự tan rã của trật tự toàn cầu.
Ngay trước thềm Đối thoại Shangri-La, ông Macron đã có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 25 đến ngày 27/5 – chuyến đi nhằm thể hiện với khu vực Đông Nam Á rằng Pháp và Châu Âu là một lựa chọn đáng tin cậy trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung.
Theo đó, Pháp và Việt Nam đã ký 14 thỏa thuận, trong đó có nhiều hợp đồng có trị giá hơn 10 tỷ USD.
Các thỏa thuận nổi bật bao gồm việc mua 20 máy bay Airbus, hợp tác về năng lượng hạt nhân, quốc phòng, lưới truyền tải điện, đường sắt và vận tải biển, vệ tinh quan sát trái đất Airbus và chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin.
Nguồn : BBC, 01/06/2025
**********************************
Chuyến đi Việt Nam của ông Macron có gì đáng chú ý ?
BBC, 27/05/2025
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron kết thúc chuyến thăm Việt Nam vào ngày 27/5 để lên đường đi Indonesia và sau đó là Singapore vào ngày 30/5 trong khuôn khổ chuyến công du Đông Nam Á kéo dài một tuần. Tại Hà Nội, ông đã chứng kiến hai nước ký hàng loạt thỏa thuận đáng chú ý.
Tổng bí thư Tô Lâm và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Pháp và Việt Nam đã ký 14 thỏa thuận, trong đó có nhiều hợp đồng có trị giá hơn 10 tỷ USD, nhân chuyến thăm của ông Macron tại Việt Nam.
Các thỏa thuận nổi bật bao gồm việc mua 20 máy bay Airbus, hợp tác về năng lượng hạt nhân, quốc phòng, lưới truyền tải điện, đường sắt và vận tải biển, vệ tinh quan sát trái đất Airbus và chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin.
Hãng bay giá rẻ VietJet sẽ mua 20 máy bay thân rộng A330-900 của Airbus - sự tiếp nối thỏa thuận năm ngoái về 20 chiếc máy bay phản lực này.
Các công ty chưa công bố giá trị của thỏa thuận hoặc lịch trình giao hàng cho các máy bay.
Việc ký kết diễn ra sau khi các quan chức Châu Âu trong những tuần gần đây thúc giục Việt Nam cẩn trọng trong các nhượng bộ dành cho Nhà Trắng - trong đó có việc Vietnam Airlines và VietJet tìm cách mua thêm nhiều máy bay Boeing trong nỗ lực thu hẹp thặng dư thương mại với Mỹ, theo chia sẻ của hai quan chức ở Việt Nam với Reuters.
Trong buổi họp báo hôm 26/5, ông Macron khẳng định sự ủng hộ của Pháp đối với tự do hàng hải - một vấn đề mà Việt Nam rất coi trọng vì thường xuyên có va chạm với Bắc Kinh về các ranh giới tranh chấp ở Biển Đông, Reuters đưa tin.
Tổng thống Macron nhấn mạnh thêm rằng quan hệ đối tác với Việt Nam "bao gồm hợp tác quốc phòng tăng cường", dẫn chứng bằng việc ký kết nhiều dự án về quốc phòng và không gian.
Về phía Việt Nam, Chủ tịch nước Lương Cường cho hay quan hệ đối tác quốc phòng liên quan đến chia sẻ thông tin về các vấn đề chiến lược cũng như hợp tác mạnh mẽ hơn trong ngành công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng và chống khủng bố, theo Reuters.
Trang DW của Đức nhận định rằng Đông Nam Á đang tìm kiếm các đối tác an ninh ngoài Mỹ và Nga, với việc Đức và Pháp đang tăng cường hoạt động ngoại giao quốc phòng của họ.
Airbus Defence and Space - bộ phận về quốc phòng và hàng không vũ trụ của Airbus - đã ký một thỏa thuận với Việt Nam về vệ tinh.
Công ty đã đàm phán từ lâu với Hà Nội để thay thế vệ tinh quan sát trái đất của Việt Nam, được tiền thân của Airbus là EADS phát triển và được phóng vào năm 2013.
Một thỏa thuận đáng chú ý khác là giữa công ty vận tải Pháp CMA CGM và Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn trong việc xây dựng một cảng container nước sâu ở miền Bắc Việt Nam vào năm 2028 với tổng vốn đầu tư 600 triệu USD.
Ngoài ra, Việt Nam và Pháp cũng đã ký kết hợp đồng tín dụng cho dự án nâng cấp lưới truyền tải điện phía Nam của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT).
Ông Macron cho biết Pháp cũng sẽ hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực trọng yếu như khoáng sản quan trọng, đường sắt cao tốc, năng lượng hạt nhân dân sự và hàng không vũ trụ.
Pháp sẽ tập trung hợp tác với Việt Nam để giúp nước này chuyển đổi từ điện than gây ô nhiễm sang năng lượng tái tạo và điện hạt nhân dân sự, theo hãng thông tấn AP.
Bên cạnh đó, Việt Nam và Pháp cũng ký hiệp định hợp tác trong việc hồi hương công dân.
14 thỏa thuận được ký kết - theo chính quyền Việt Nam tuyên bố - ít hơn dự kiến về "hàng chục thỏa thuận" trước đó của Điện Élysée.
Ông Macron muốn gì từ Hà Nội ?
Trong chuyến công du, vị tổng thống Pháp đã nhấn mạnh "quan hệ đối tác chủ quyền" giữa Pháp và Việt Nam có thể là trục trung tâm trong cách tiếp cận của Pháp ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Pháp đã thể hiện "mong muốn bảo vệ luật pháp hàng hải quốc tế" khi triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay của Pháp ở Biển Đông vào đầu năm 2025, hãng tin AP dẫn lời ông Macron.
Biển Đông là tuyến đường thương mại hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới với tổng giá trị hàng hóa qua đây mỗi năm lên đến 3.000 tỷ USD. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với phần lớn khu vực - gây mâu thuẫn với các tuyên bố từ nhiều nước khác, trong đó có Việt Nam.
Những năm gần đây, Pháp đã tiến hành các cuộc tập trận tự do hàng hải trên vùng biển này và có các căn cứ quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nơi nước này vẫn kiểm soát một số lãnh thổ hải ngoại, trong đó có Réunion và Mayotte.
Ông Macron nhấn mạnh rằng trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với sự mất cân bằng lớn và nguy cơ quay trở lại các lời lẽ, hành vi hăm dọa dựa trên sức mạnh, việc thiết lập một "trật tự dựa trên luật pháp" là vô cùng cần thiết.
Một trợ lý của vị tổng thống Pháp đã nói với truyền hình nước này trước chuyến đi rằng thông điệp của ông Macron nhắm đến cả Washington và Bắc Kinh.
Chuyến công du diễn ra trong bối cảnh Pháp nói riêng và Liên Hiệp Châu Âu (EU) nói chung đang tìm cách củng cố quan hệ thương mại với Châu Á để giảm thiểu những bất ổn từ các biện pháp thuế quan của Tổng thống Mỹ Donald Trump.
"Việt Nam giỏi hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở Đông Nam Á trong việc phòng ngừa rủi ro và đa dạng hóa thị trường, đối tác kinh tế và ngoại giao của mình ; Pháp là chìa khóa cho chiến lược đó ở Châu Âu", Giáo sư Zachary Abuza, từ trường National War College ở Washington DC, nhận định với DW.
Có chung nhận định, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng - cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan - trong bài viết cho BBC News Tiếng Việt hôm 23/5 cho rằng "hai bên đều nhìn nhận nhau là đối trọng có giá trị : với Pháp, Việt Nam là một mỏ neo vững chắc tại lục địa Châu Á đang đối mặt với nhiều biến động ; với Việt Nam, Pháp là đối tác Châu Âu tin cậy giữa bối cảnh các áp lực địa kinh tế và địa chiến lược lên khu vực ngày càng gia tăng".
Cho đến nay, Pháp vẫn là quốc gia EU duy nhất mà Việt Nam thiết lập mối quan hệ ngoại giao cao nhất - Đối tác Chiến lược Toàn diện.
"Nếu Paris và Hà Nội biết nắm bắt thời cơ, không chỉ quan hệ song phương được củng cố, mà cả trật tự đa cực tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng sẽ được định hình theo hướng bền vững và công bằng hơn", Tiến sĩ Thắng kết luận.
Nguồn : BBC, 27/05/2025
*****************************
Ông Macron đến Hà Nội : Bù đắp lỡ hẹn với lịch sử hay bình minh của trật tự đa cực mới ?
Đinh Hoàng Thắng, BBC, 23/05/2025
Khi Tổng thống Emmanuel Macron bắt đầu chuyến công du chiến lược tại Đông Nam Á - với ba điểm dừng quan trọng là Việt Nam, Indonesia và Singapore từ ngày 23 đến 30/05/2025 - nước Pháp đang phát đi những tín hiệu vượt xa ý nghĩa biểu tượng thông thường.
Tổng bí thư Tô Lâm gặp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Điện Élysée, Paris hồi tháng 10/2024
Chuyến thăm này đánh dấu thời khắc quan trọng đối với cả Pháp lẫn Việt Nam, xiển dương "Năm Đổi mới Pháp – Việt 2025" được khởi động tại Hà Nội cách đây một tháng, bởi Bộ trưởng phụ trách Ngoại thương Laurent Saint-Martin. Dẫu rằng, Pháp đang phải đối mặt với thâm hụt thương mại kéo dài và đang nỗ lực biến Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU – Việt Nam (EVIPA) trở thành động năng mới cho sự phát triển của các doanh nghiệp liên quan.
Bối cảnh toàn cầu của chuyến công du càng nổi bật giữa xu thế phân mảnh địa chính trị. "Pax Americana" bộc lộ dấu hiệu mệt mỏi, trong khi tham vọng trật tự thứ bậc đàn anh của Trung Quốc - mà giới học giả gọi là "Pax Sinica" - vẫn còn bị thách thức trên khắp thế giới. Giữa các chuyển dịch kiến tạo này, một cơ hội hiếm hoi đang xuất hiện : liệu các cường quốc tầm trung và các quốc gia hậu thuộc địa - bao gồm cả Pháp - có thể góp phần định hình một trật tự đa cực dựa trên chủ quyền, phẩm giá và hợp tác ?
Nhưng vì sao Pháp - quốc gia từng giữ vai trò thực dân tại Đông Dương - nay lại muốn làm sâu sắc quan hệ song phương với Việt Nam ?
Một số nguyên nhân sâu xa và cập nhật mang tính toàn cầu có thể làm sáng tỏ :
- Sau chiến tranh Ukraine, Pháp mất dần ảnh hưởng chiến lược trong nội khối EU khi Đức giữ vai trò dẫn dắt kinh tế, Ba Lan nổi lên như một trụ cột an ninh vùng Đông Âu, còn Ý ngày càng gần gũi với Mỹ và NATO. Điều này buộc Paris phải tái định hình không gian ảnh hưởng chiến lược ở ngoài Châu Âu.
- Brexit khiến Pháp trở thành cường quốc hạt nhân duy nhất còn lại trong EU, đồng thời là nước duy nhất có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Điều này làm tăng trách nhiệm và cơ hội để Pháp thể hiện vai trò lãnh đạo ở những không gian quốc tế như Đông Nam Á.
- Sự lỡ trớn của Paris trong thỏa thuận tàu ngầm với Australia (do AUKUS) khiến giới hoạch định chiến lược Pháp nhận ra sự mong manh trong các liên minh phương Tây, từ đó thúc đẩy chính sách "đa hướng" với các đối tác ngoài trục Washington–Brussels–Tokyo. Việt Nam nổi lên như một lựa chọn khả dĩ và xác suất thành công cao.
- Việt Nam, với tiềm năng kinh tế và sự linh hoạt chiến lược như đã biết, chính là trung tâm của sự lựa chọn ấy. Khẩu hiệu "vươn mình vào kỷ nguyên mới" của Tổng bí thư Tô Lâm rất cần những trụ cột vững vàng từ liên kết quốc tế. Còn nước Pháp, mang theo di sản lịch sử, đồng thời lại sở hữu sự tinh tế ngoại giao và các lợi thế về văn hóa, đang đứng trước ngã rẽ : hoặc hành động như một đối tác lâu dài, đáng tin cậy trong sự chuyển mình của Châu Á, hoặc một lần nữa bỏ lỡ chuyến tàu lịch sử ?
Ba điểm dừng – Ba mục tiêu chiến lược
Chuyến thăm ba quốc gia lần này của ông Macron không chỉ mang tính biểu tượng mà còn phản ánh các điều hướng chiến lược được tính toán kỹ lưỡng : Từ năm 2018, Pháp đã xác định khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một trong những ưu tiên, với mục tiêu thúc đẩy một trật tự đa cực dựa trên luật pháp quốc tế và tự do hàng hải.
Chiến lược này được củng cố bởi sự hiện diện quân sự của Pháp tại các lãnh thổ hải ngoại như La Réunion và Polynésie, cùng với các hoạt động hải quân tại khu vực, trong đó có các cuộc hải hành trên Biển Đông "đang dậy sóng".
Tại Việt Nam, trọng tâm là củng cố quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện (CSP) đã được nâng cấp từ tháng 10 năm 2024. Tới đây sẽ là cơ hội để hai nước tiến xa hơn, nếu khoảng 30 văn kiện ngoại giao, kinh tế và văn hóa sẽ được ký kết vào ngày 26/5.
Bang giao song phương không chỉ trong quan hệ kinh tế, hợp tác hàng hải và năng lượng mà còn mở rộng sang cả những lĩnh vực mang chất lượng chiến lược như công nghệ số và biến đổi khí hậu. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Pháp dự lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ cũng là biểu hiện của sự hòa giải và tôn trọng lịch sử.
Tại Indonesia, Pháp hướng đến sự kết nối với nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời là quốc gia dẫn dắt trong ASEAN. Tổng thống Macron kỳ vọng mở rộng ảnh hưởng của Pháp thông qua hợp tác về quốc phòng, hàng không vũ trụ và các dự án phát triển hạ tầng.
Ở Singapore, nơi được xem là cửa ngõ tài chính của khu vực, Pháp tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ tài chính (Fintech), trí tuệ nhân tạo (AI) và phát triển bền vững, từ đó khẳng định vị thế của Paris như một đối tác công nghệ hàng đầu.
Tổng thống Macron sẽ đọc bài diễn văn khai mạc tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 22, tại Singapore từ 30/5 đến 1/6 năm 2025.
Đây là lần đầu tiên một nguyên thủ quốc gia Pháp đảm nhận vai trò này tại diễn đàn an ninh hàng đầu Châu Á, phản ánh cam kết ngày càng sâu sắc của Pháp đối với khu vực Indo–Pacific. .
Ba điểm dừng chân tượng trưng cho ba trụ cột chiến lược của Pháp tại Châu Á : an ninh hàng hải, phát triển kinh tế và đổi mới công nghệ, tất cả đều xoay quanh mục tiêu định hình một trật tự đa cực trong không gian Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương.
CSP được định hình nhưng chưa hoàn tất
Việc nâng cấp quan hệ Pháp-Việt lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (CSP) vào tháng 10 năm 2024 - mức cao nhất trong hệ thống ngoại giao của Việt Nam - không chỉ mang tính biểu tượng mà còn mở ra những cơ hội thực chất.
Điều này khẳng định cả hai bên đều nhìn nhận nhau là đối trọng có giá trị : với Pháp, Việt Nam là một mỏ neo vững chắc tại lục địa Châu Á đang đối mặt với nhiều biến động ; với Việt Nam, Pháp là đối tác Châu Âu tin cậy giữa bối cảnh các áp lực địa kinh tế và địa chiến lược lên khu vực ngày càng gia tăng.
Tuy nhiên, biểu tượng nào cũng không thể thay thế cho thực chất bang giao.
Chuyến thăm của ông Macron là cơ hội để biến những kỳ vọng chung thành các khuôn khổ cụ thể : mở rộng hợp tác hàng hải và năng lượng, đầu tư vào cơ sở hạ tầng bền vững, hỗ trợ tham vọng khí hậu của Việt Nam và cùng phát triển các công nghệ quan trọng cho chủ quyền số và hệ sinh thái.
Chuyến thăm cũng là phép thử để hai quốc gia chứng minh rằng hai nước không chỉ hội tụ về lợi ích, mà còn có chung tầm nhìn chiến lược lâu dài, đặc biệt là về một không gian Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương tự do và cởi mở (FOIP).
Trong cuộc gặp với Tổng bí thư Tô Lâm ngày 17/4 tháng trước, Đại sứ Pháp Olivier Brochet đã bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ của Paris đối với việc phê chuẩn EVIPA, cam kết sẽ thúc đẩy Quốc hội Pháp hành động nhanh chóng.
Việt Nam đã hoan nghênh động thái này.
Đại sứ Brochet cũng nhấn mạnh sự ủng hộ của Pháp trong việc gỡ bỏ "thẻ vàng IUU" của Ủy ban Châu Âu đối với thủy sản Việt Nam.
Tổng kim ngạch thương mại hai chiều năm ngoái đạt 8,5 tỷ Euro, trong đó Pháp ghi nhận mức thâm hụt 5,5 tỷ Euro với Việt Nam
Xuất khẩu của Pháp (1,5 tỷ Euro năm 2024) chủ yếu là dược phẩm, thiết bị cơ khí, điện tử và nông sản thực phẩm, nhưng vẫn khó khăn trong việc bù đắp nhập khẩu từ Việt Nam, gồm dệt may, giày dép và thiết bị điện tử.
Từ ký ức thuộc địa đến Trật tự đa cực
Tham vọng của Pháp tại Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương được thể hiện thông qua chiến lược của Liên Hiệp Châu Âu (EU) và sáng kiến ngoại giao của cá nhân ông Macron.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ ngày càng bị chi phối bởi phân cực nội bộ và cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc, khoảng trống quyền lực đang dần mở ra cho những cường quốc tầm trung như Pháp.
Giữa các tin Trung Quốc dự kiến sẽ không cử Bộ trưởng Quốc phòng tham dự Đối thoại năm nay, bài diễn văn của Tổng thống Macron càng trở nên quan trọng, có thể định hình các cuộc thảo luận và hợp tác an ninh trong khu vực trong thời gian tới.
Không giống Washington, Paris sẽ nhấn mạnh nhiều đến các vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh mạng, khủng bố và các mối đe dọa phi truyền thống.
Khác với Bắc Kinh, Pháp không theo đuổi và áp đặt mô hình bá quyền.
Và cũng không giống London, Paris vẫn duy trì được các cầu nối sống động về văn hóa, ngôn ngữ và lịch sử - dù còn gây tranh cãi. Việt Nam, quốc gia từng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Pháp, nay vẫn là thành viên năng động của cộng đồng Pháp ngữ (la Francophonie) đang trở thành điểm tựa để Paris chuyển mình từ ký ức thuộc địa sang vai trò đối tác xây dựng.
Phép thử giữa ổn định và chuyển đổi
Việt Nam đang đứng trước một lựa chọn chiến lược quan trọng : vừa duy trì ổn định chính trị, vừa chuyển đổi nền kinh tế và hội nhập sâu rộng vào cấu trúc đa cực mới.
Là một mắt xích quan trọng tại không gian Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương, Việt Nam không chỉ đang chủ động thúc đẩy quan hệ với các cường quốc, mà còn quyết tâm tạo lập các liên kết bền vững với những quốc gia tầm trung như Pháp để cân bằng quyền lực trong khu vực.
Chuyến công du Đông Nam Á của Macron không chỉ là một chuyến đi mang tính biểu tượng mà còn mở ra một cơ hội chiến lược hiếm có để Pháp và Việt Nam cùng định hình tương lai khu vực.
Nếu Paris và Hà Nội biết nắm bắt thời cơ, không chỉ quan hệ song phương được củng cố, mà cả trật tự đa cực tại Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương cũng sẽ được định hình theo hướng bền vững và công bằng hơn.
Đây chính là thời điểm lịch sử để hai quốc gia bước qua bóng tối của ký ức thuộc địa, để tiến tới một tương lai chung đầy hứa hẹn.
Đinh Hoàng Thắng
Nguồn : BBC, 23/05/2025
-----------------------------
Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng là cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan và hiện là nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế.