2026-03-26T22:30:00Z

Phan Châu Trinh, từ cựu học đến tân học

Phan Châu Trinh, từ cựu học đến tân học | Vietnam Fraternité

Văn hóa

Phân tích

Tiểu sử và sự nghiệp của Phan Châu Trinh đã được nhiều người viết. Bài này xin phác thảo vị trí đặc biệt của ông trong lịch sử cận đại Việt Nam. Để dễ thấy rõ vấn đề, tốt nhứt xin trở lại hoàn cảnh lịch sử Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Vietnam Fraternité

Giáo sư Trần Gia Phụng nói về thân thế và sự nghiệp của chí sĩ Phan Châu Trinh hôm 22/03/2026, nhân ngày giỗ 100 năm của ông. (Hình : Văn Lan/Người Việt)

Hoàn cảnh lịch sử 

Về văn hóa, vào đầu thế kỷ 20, tình hình Việt Nam có hai điểm đáng chú ý : Thứ nhứt, Pháp bảo hộ Việt Nam năm 1884, nhưng vẫn để triều đình Việt Nam cai trị Bắc Kỳ và Trung Kỳ và tiếp tục duy trì nền giáo dục Hán học. Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp từ năm 1874, do người Pháp trực tiếp cai trị. Thứ hai, để phổ biến văn hóa Pháp, tại Huế, nhà cầm quyền bảo hộ thành lập Pháp Tự Quốc Học Đường (Trường Quốc Học) năm 1896, và các tu sĩ dòng sư huynh La Salle (La San) mở trường Pellerin (Trường Bình Linh) năm 1904.

Chính trong hoàn cảnh nầy, Phan Châu Trinh đỗ phó bảng Hán Học năm 1901 và được bổ nhiệm làm thừa biện bộ Lễ tại Huế năm 1903.

Thân thế Phan Chu Trinh 

Về thân thế Phan Châu Trinh, có bốn điểm quan trọng. Thứ nhứt, ông sinh trưởng tại Quảng Nam, là tỉnh sớm tiếp xúc với người và văn hóa Tây Phương. Người Quảng Nam thích học hỏi, hay tranh luận, mang tiếng là "Quảng Nam hay cãi". Thứ hai, phụ thân của ông Phan Châu Trinh là ông Phan Văn Bình, giữ chức quản cơ sơn phòng (phòng thủ miền núi), bị sát hại trong một vụ án không rõ ràng, chắc chắn ám ảnh ông suốt đời. Thứ ba, làm việc tại Huế, ông có cơ hội đọc được các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), và bài "Thiên hạ đại thế luận" của Nguyễn Lộ Trạch (1843-1898). Thứ tư, theo Huỳnh Thúc Kháng, điều quyết định làm thay đổi tư tưởng Phan Châu Trinh chính là sau khi ông đọc những tân thư của những nhà cải cách Trung Hoa là Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi về tự do và dân quyền… "thì trong lòng ham thích quên ăn, quên ngủ, từ đó trong tư tưởng đổi hẳn ra một cách mới mẻ".

Cả bốn dữ kiện trên đây ảnh hưởng đến tư tưởng Phan Châu Trinh, nên có thể vì vậy, ông chủ trương bất bạo động, cải cách văn hóa, chính trị, cổ xúy quốc ngữ, nhưng trực tiếp vận động mà không kiến nghị lên triều đình Huế như những nhà duy tân đi trước.

Từ cựu học đến tân học 

Năm 1905, Phan Châu Trinh từ chức, trở về Quảng Nam, và cùng các thân hữu như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Lê Cơ… vận động duy tân, mở những lớp học ở các huyện, dạy toán, khoa học, quốc ngữ. Các ông còn kêu gọi thành lập những hội như nông hội, hội cắt tóc ngắn, hội mặc đồ tây… Học viên không phân biệt tuổi tác, giới tính.

Để tìm hiểu thời cuộc, Phan Châu Trinh du hành vào Nam (tới Phan Thiết), ra Bắc (đến Hà Nội), lên Yên Thế, qua Trung Hoa, thăm Nhật.

Năm 1906, sau khi từ Nhật trở về, Phan Châu Trinh nói với Phan Bội Châu rằng : "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được". Nói đến dân quyền là nói đến độc lập, tự do, dân chủ.

Năm 1907, trong một bài viết tại Hà Nội, Phan Châu Trinh kết luận : "Không bạo động, bạo động tất chết. Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu… Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham muốn tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào là không gì bằng học".

Năm 1908, dân chúng huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, biểu tình ngày 11/3, xin giảm xâu hạ thuế. Phan Châu Trinh vận động duy tân, cổ xúy nâng cao dân trí, nên người Pháp nghi ngờ ông cầm đầu cuộc dân biến tại Đại Lộc, liền bắt ông ngày 31/3/1908 tại Hà Nội, dù ông không liên hệ gì đến biến cố nầy.

Từ đây, cuộc đời Phan Châu Trinh trôi nổi theo thời cuộc. Ông bị lưu đày ra hải đảo Côn Lôn năm 1908. Nhờ hội Nhân Quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do năm 1910, nhưng bị chỉ định cư trú ở Mỹ Tho. Năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp theo phái đoàn giáo sư Hán Văn. Khi Thế Chiến thứ nhứt bùng nổ năm 1914, Phan Châu Trinh bị tù tại Paris, rồi năm sau (1915) được thả ra. Năm 1925, nhà cầm Pháp chấp thuận cho Phan Châu Trinh trở về Nam Kỳ.

Tại Sài Gòn, Phan Châu Trinh diễn thuyết hai lần ở Nhà Hội Thanh Niên, hô hào thiết lập chính thể dân chủ. Đây là hai hoạt động cuối cùng của Phan Châu Trinh trước khi ông từ trần ngày 24/3/1926.

Từ quân chủ đến dân chủ 

Tóm lại, trước sau Phan Châu Trinh hoạt động ở trong nước có sáu năm, gồm bốn năm sau khi từ quan, hai năm sau khi từ Pháp về nước, nhưng ảnh hưởng khá sâu rộng.

Về văn hóa, sau khi Phan Châu Trinh dấn thân hoạt động, cổ xúy quốc ngữ năm 1905, thì quốc ngữ dần dần được sử dụng rộng rãi, và thay thế chữ Hán, được đưa vào trường học, trở thành chữ viết của người Việt. Một nhà đại khoa bảng Hán học mà cổ xúy quốc ngữ, dễ làm cho dân chúng tin tưởng. Các kỳ thi Hán học chấm dứt năm 1918.

Về chính trị, sau khi Phan Châu Trinh từ trần năm 1926, nhiều hội đoàn và đảng phái tranh đấu cho tự do của người Việt được thành lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, mà cao điểm là Việt Nam Quốc Dân Đảng, thành lập tại Hà Nội vào cuối năm 1927. Một người xuất thân từ ý thức hệ quân chủ, mà lại vận động thành lập chính thể dân chủ khiến dân chúng dễ chú ý.

Những biến chuyển trên đây trầm lặng, không ồn ào, không bùng nổ, nhưng lại tạo nền tảng căn bản của một trục xoay làm chuyển hướng (turning point) dòng chảy văn hóa và chính trị Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, từ cựu học chữ Hán qua tân học quốc ngữ, và từ tinh thần quân chủ qua sinh hoạt dân chủ. Những sự kiện nầy từ từ ảnh hưởng lâu dài đến lịch sử cận đại Việt Nam.

Trần Gia Phụng

Nguồn : Người Việt, 26/03/2026