2026-02-11T19:00:00Z

Quản lý bền vững những bờ biển Địa Trung Hải ở Châu Âu

Quản lý bền vững những bờ biển Địa Trung Hải ở Châu Âu | Vietnam Fraternité

Tiêu điểm

Phân tích

Châu Âu : Nhà nước hay tư nhân quản lý để khai thác bền vững những bờ biển Địa Trung Hải ?

Tìm đến bãi biển để nghỉ ngơi thư giãn là một trong những lựa chọn quen thuộc cho những kỳ nghỉ ngày nay tại Pháp. Với những địa phương có đường bờ biển, đặc biệt là biển nước ấm, tăng trưởng kinh tế dựa vào du lịch biển chiếm tỉ trọng đáng kể. Nhiều nơi, hoạt động khai thác bờ biển định hình cảnh quan, quy hoạch của toàn vùng.

Vietnam Fraternité

Bãi biển ở Nice, Côte d'Azur, miền nam Pháp, hè 2018. Reuters/Sebastien Nogier

Để hiểu hơn về quy hoạch vùng biển phục vụ hoạt động nghỉ dưỡng tại Châu Âu, RFI tiếng Việt có cuộc trao đổi với kiến trúc sư quy hoạch Bùi Uyên, cũng là cộng tác viên của đài.

RFI : Hoạt động nghỉ dưỡng ở bãi biển có từ khi nào ?

Bùi Uyên : Ngày nay, phần lớn du khách ưa thích ngâm mình trong làn nước ấm áp của những bãi biển ngập nắng miền Nam bên bờ Địa Trung Hải, hơn là dọc những vùng duyên hải lộng gió eo biển Manche. Nhưng chính nước Anh mới là nơi ra đời hoạt động nghỉ dưỡng bãi biển. Xuất phát điểm là những khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng, trị liệu, được xây dựng từ đầu thế kỷ 18, dần dần hình thành những thành phố nghỉ dưỡng bên bờ biển thu hút khách du lịch, đánh dấu bước ngoặt lớn trong tương tác với tài nguyên biển. Thời điểm đó, nước biển được sánh ngang nước khoáng trong vai trò trị liệu. Tắm biển, trước hết, là một liệu pháp chăm sóc sức khỏe. Để phục vụ hoạt động nghỉ dưỡng, chữa bệnh này, những đường dạo ven biển và những khu đô thị dần dần mọc lên.

Nhờ có trao đổi qua lại giữa hai bờ eo biển Manche mà xu hướng này lan dần sang những vùng ven biển Normandie của Pháp. Những thành phố du lịch nghỉ dưỡng đầu tiên phải kể đến Deauville, Trouville, Cabourg, đặc biệt nở rộ nhờ có phát triển ngành đường sắt vào giữa thế kỷ 18 khiến việc tiếp cận các khu nghỉ ven biển dễ dàng hơn đáng kể. Ban đầu, những khu đô thị mới này dành cho tầng lớp thượng lưu, tách biệt khỏi những khu làng chài cổ vốn quay lưng ra biển, chỉ khai thác nghề đánh bắt hải sản.

RFI : Đô thị du lịch biển phải chăng là tác nhân làm thay đổi sâu sắc cảnh quan các vùng duyên hải ?

Bùi Uyên : Đúng, quy hoạch khai thác bờ biển như một điểm đến du lịch, với mô hình những khu phức hợp nghỉ dưỡng, dịch vụ giải trí, từ sức khỏe đến sòng bạc, đã được ra đời như một loại hình đầu tư tư nhân thu lợi nhuận cao. Dần dần, bờ biển trở thành một bộ phận của quy hoạch đô thị và chính sách công về phát triển du lịch biển và kinh tế địa phương. 

Ban đầu, ngay khi được khai thác du lịch, cảnh quan biển tự nhiên phần cốt yếu vẫn là để chiêm ngưỡng, đi dạo thư giãn hơn là nơi để bơi lội. Trên tầm thế giới, khái niệm nghỉ mát mùa hè trên những bãi biển chỉ ra đời vào đầu thế kỷ 20. Phải kể đến khái niệm 3S "Sun-Sand–Sea" (Nắng-Cát-Biển) ra đời trên quần đảo Hawaii rồi lan sang dải bờ biển bang Floride của Mỹ. Với trào lưu này, những vùng biển ấm nóng trở thành nơi để thư giãn, giải phóng cơ thể, hòa mình trong nắng, cát và nước biển.

Tại Châu Âu, loại hình tắm biển này bắt đầu xuất hiện bên bờ Địa Trung Hải vào những năm 30 của thế kỷ trước. Đầu tiên phải kể đến bờ biển nghỉ mát vùng Côte d’Azur, miền nam Pháp. Theo năm tháng, danh tiếng của khu bờ biển này ngày càng thu hút tầng lớp khá giả, giới thượng lưu, văn nghệ sĩ, không những trong nước mà cả ở tầm thế giới. Để kéo dài hoạt động giải trí mang lợi ích kinh tế chủ chốt, các thành phố ven biển dần đa dạng hóa các hoạt động sang các mùa khác trong năm. Như các thành phố Nice, Cannes của Pháp mở đón những sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế, mà nổi bật nhất là Liên hoan phim Cannes tháng 5 hàng năm, khai mạc lần đầu tiên năm 1946. Những khu nhà ở theo mùa hoặc dài hạn cả năm cũng được xây dựng khắp nơi, mời gọi những người có khả năng tài chính sở hữu những căn hộ, biệt thự nghỉ mát mùa hè.

RFI : Pháp tìm sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường biển tự nhiên như thế nào ?

Bùi Uyên : Trong suốt các thập niên nửa cuối thế kỷ 20, khắp dọc các bờ biển, hàng loạt các khu tổ hợp giải trí, khách sạn, từ sang trọng cho đến bình dân mọc lên, biến một vùng biển thành điểm đến nghỉ mát mới. TIếp nối Côte d’Azur, khu vực phía tây nam cũng mọc lên những thành phố nghỉ mát nổi tiếng, kéo dài từ Perpignan qua Narbonne, đến Montpellier. Không chỉ khai thác thế mạnh hơn 1600 km đường bờ biển Địa Trung Hải, các dải bờ Đại Tây Dương cũng không ngừng thu hút du khách lũ lượt đổ về bốn mùa trong năm. 

Nhận thấy nguy cơ từ tốc độ phát triển đô thị biển ồ ạt này, một bộ luật chuyên về các vùng lãnh thổ ven biển được ra đời năm 1985. Bộ luật này được soạn thảo với mục đích quản lý quy hoạch, bảo vệ và gìn giữ giá trị các vùng tiếp giáp biển này.

Chính nhờ có chính sách quản lý từ sớm, nên tuy là một quốc gia có nhiều lợi thế về đường bờ biển, Pháp vẫn song song vừa khai thác du lịch, nhưng vẫn giữ lại được phần lớn đường bờ biển tự nhiên đa dạng về cảnh quan, cũng như sinh quyển. Những ngôi làng cổ như Eze cheo leo trên mỏm núi đá chiếm trọn tầm nhìn xuống bờ biển, ngay sát những đô thị du lịch sầm uất từ Monaco đến Cannes. Hay một làng Saint-Tropez sang chảnh bậc nhất vẫn giữ nét xưa, không xa bãi tắm Lavandou thanh bình với hàng kilomét bờ biển tự nhiên cát mịn. Còn nếu mê ngắm nhìn những đàn hồng hạc thì không thể bỏ qua khu đầm sinh quyển Carmague rộng gần 200 ngàn hecta ngay bên bờ biển, nằm giữa trục đường nối những bến cảng biển Marseille nhộn nhịp với thành phố Montpellier ngập nắng.

Khách du lịch có thể tự do nằm dài phơi nắng trên những ghế ngả thư giãn, hay chọn những chuyến dạo bộ hàng giờ dọc theo đường dạo tự nhiên vắt qua những khu bảo tồn thiên nhiên hay di tích cổ. Dù nghỉ ngơi theo cách nào, thì du khách cũng có thể dừng chân bơi lội bất kỳ đâu,dù bãi biển đông đúc bên những nhà hàng sang trọng hay vắng vẻ nơi vách núi hoang sơ.

RFI : Còn tại Tây Ban Nha, chính quyền quy hoạch bờ biển thành không gian công cộng trụ cột của đô thị du lịch tại Tây Ban Nha. Chị có thể giải thích thêm ?

Bùi Uyên : Với chính sách coi đường bờ biển trước hết là không gian công cộng, nước láng giềng Tây Ban Nha của Pháp cũng sớm có bộ luật vùng duyên hải từ năm 1969. Với hơn 2000km riêng phần đường bờ biển Địa Trung Hải và gần như nắng ấm quanh năm, Tây Ban Nha xây dựng hình mẫu phân tầng không gian và thiết kế cảnh quan công cộng bờ biển một cách bài bản. Theo hình mẫu này, một dải không gian trống, rộng lớn dao động từ 50-100m chiều ngang được quy hoạch men theo hàng kilomét đường bờ biển. Ở đó, đường xe cơ giới tiếp cận những bãi đỗ xe nổi hoặc ngầm, với vỉa hè thoáng đãng rợp bóng cây. Lớp không gian tiếp theo dải đường bộ này là chuỗi xen kẽ giữa những vườn hoa cảnh quan và các khu vui chơi trẻ em rộng lớn. Cuối cùng là tầng không gian bờ nước, một đường đi bộ rộng viền theo những bãi cát, dành cho hoạt động tắm biển và thể thao trên cát có thể rộng 100-200m.

Dọc đường biển Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha, người ta dễ dàng gặp cấu trúc cảnh quan này ở các thành phố nghỉ mát lớn nhỏ. Với phân bố không gian công cộng trung tâm theo tuyến, lấy bờ biển là trung tâm, các thành phố ven biển ở đây định hình cấu trúc hoàn toàn khác biệt với những đô thị sâu trong đất liền xây dựng bao bọc quanh lõi trung tâm là khu phố, nhà thờ cổ.

RFI : Tình hình tại Ý, một quốc gia cũng nổi tiếng với du lịch biển, thì sao ? Có gì khác với Pháp và Tây Tây Nha ? Dường như đó là một "cuộc chiến" giữa tư hữu hóa vì lợi nhuận với đòi hỏi quyền tiếp cận cho toàn dân ?

Bùi Uyên : Trái ngược với Pháp và Tây Ban Nha sớm luật hóa việc quản lý đường bờ biển, nước láng giềng Ý, cũng sở hữu thế mạnh du lịch biển nức tiếng thế giới, lại có phần nới lỏng hơn. Với hơn 7.600km đường bờ biển, nước Ý lại không có khung luật về quản lý khai thác du lịch ven biển. Đó có lẽ là lý do mà khoảng 50% các bãi biển nằm dưới sự quản lý của các công ty tư nhân. Thường là những bãi biển đẹp nhất và dễ tiếp cận nhất, trong các vùng du lịch nổi tiếng (3). Nhiều vùng, tỉ lệ bãi biển tư nhân lên tới 70-90%. Trong khi đó, các bãi biển công cộng miễn phí (spiaggia libera) thường bị thu hẹp, ít được bảo trì, nên thường quá tải, nhiều chỗ không đảm bảo vệ sinh.

Trên các bãi biển do tư nhân vận hành, các dịch vụ chính là cung cấp ghế nằm, dù che nắng, nhà hàng… Các bãi biển này mang lại trải nghiệm sạch sẽ, tiện nghi hơn nhưng có thu phí sử dụng trung bình 15€/ngày/người. Loại hình dịch vụ này không những mang lại một nguồn thu ngân sách lớn hàng tỷ euro mỗi năm, đóng góp vào tỉ lệ 10,8% PIB từ du lịch, lại giảm tải chi phí nhà nước cho bảo trì các bãi biển và tạo hàng ngàn việc làm trong ngành dịch vụ này.

Một đặc thù ở đây là hợp đồng cấp phép được gia hạn lại và truyền từ đời này qua đời khác trong các tập đoàn gia đình, mà không cần qua đấu thầu lại. Mô hình này gây tranh cãi do thiếu minh bạch, đây cũng là yêu cầu cải cách của Ủy ban Châu Âu với chính phủ Ý từ nhiều năm nay. Chỉ đến cuối năm 2024, chính quyền của thủ tưởng Meloni cuối cùng mới chấp nhận áp dụng việc mở đấu thầu tự do các hợp đồng quản lý bãi biển. Các chủ quán lý hiện thời sễ tiếp tục đến cuối 2027, sau đó sẽ phải đấu thầu lại.

Việc để tư nhân quản lý bãi biển dẫn đến một bất cập khác là quyền tiếp cận biển tự do bị hạn chế. Tuy theo quy định tại đây, các bãi biển quản lý tư nhân phải dành 20-30% diện tích cho người dân được sử dụng miễn phí, nhưng nhiều nơi, khu vực này bị quây rào thành từng ô nhỏ, giữa bốn bề là những khu vực bãi cát thu phí.

"Ra biển là để được cảm thấy dễ chịu. Khi tôi ở trên bãi biển, tôi muốn tận hưởng đường chân trời 180° chứ không phải bị nhốt trong một cái chuồng gà", Stefano Salvetti - một nhà hoạt động vì những bãi biển công cộng phát biểu.

Trong cuộc phỏng vấn trên bờ biển Gêne, Davide Loreda, một người dân vùng Gêne, 39 tuổi, phát biểu "tôi không nói rằng phải xóa bỏ hết các bãi biển tư nhân, nhưng phải để (người dân) có sự lựa chọn. Bạn hãy tưởng tượng sổng ở bên bờ biển mà không thể tiếp cận nó ? Thật là kinh khủng".

Còn Mario Mascia thì cũng đồng tình : "Ttiếp cận biển không thể chỉ giới hạn cho ai có điều kiện. Nhất là ngày nay với khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua, các gia đình có ngân sách ngày càng hạn hẹp hơn" (3).

Do đó, cuộc đấu tranh đòi tăng số bãi biển công cộng kéo dài hàng thập kỷ, nhờ những tổ chức hội nhóm của dân địa phương đã bền bỉ đấu tranh pháp lý và vận động chính sách. Một hậu quả của việc thiếu quản lý nhà nước là nạn beton hóa bãi biển : mỗi năm, nước Ý mất đi 5km đường bờ biển tự nhiên (4). Với những lập luận này, nhóm vận động Conamal đấu tranh vì quyền tiếp cận biển công cộng và miễn phí của người dân, yêu cầu chính phủ Ý quy định tối thiểu 50% các bãi biển miễn phí tại tất các các tỉnh ven biển. Hội phi lợi nhuận này cũng đấu tranh để được tham gia đấu thầu dành quyền mở lại những bãi biển công cộng miễn phí.

RFI : Trước thách thức về biển đổi khí hậu, chính quyền Pháp hướng đến những thay đổi gì trong quản lý để khai thác bền vững đường bờ biển ?

Bùi Uyên : Trở lại Pháp, đứng trước tính cấp bách về bảo vệ môi trường và nguy cơ biến đổi khí hậu, luật bảo vệ đường bờ biển vẫn tiếp tục được đổi mới, cập nhật theo hướng tăng cường bảo vệ chống xói mòn, giảm thiểu nguy cơ do nước biển dâng, hạ chế xả rác thải… Tiêu biểu như bộ luật sửa đổi năm 2021 quy định quy hoạch địa phương phải đưa ra phạm vi vành đai sinh thái để "chặn đô thị hóa". Hay như quy định không cấp phép xây dựng trong dải 100m từ mức mép nước cao nhất, một mặt bảo vệ môi trường tự nhiên bờ biển, mặt khác bảo vệ an toàn cho người dân, trước những nguy cơ sụt lở do xói mòn bờ biển hay nước biển dâng. Xa hơn nữa, tại nhiều điểm đến du lịch biển tiếng tăm, nhiều biện pháp để hạn chế bớt khách du lịch dần được áp dụng.

Mới đây, hội nghị thượng đỉnh thế giới về đại dương diễn ra tại Nice vào tháng 06/2025 đánh dấu một bước quan trọng đưa vấn đề bảo vệ sinh quyển các đại dương vào chính sách các quốc gia có đường bờ biển. Ủy ban Châu Âu cũng đề ra nhiều khung pháp lý và các chương trình hợp tác lãnh thổ, các quỹ tài chính để bảo vệ bờ biển, như "Chính sách Hàng hải tích hợp", nhằm mục đích điều phối các hoạt động liên quan đến đại dương, biển và bờ biển Châu Âu.

Dù được quản lý và khai thác dưới hình thức công hay tư, quy mô địa phương hay toàn vùng biển, thì đòi hỏi bảo vệ môi trường biển ngày càng cấp thiết. Không chỉ với những mục tiêu vĩ mô về môi trường và hệ sinh thái toàn cầu, mà ở mức độ vi mô, giữ gìn một đường bờ biển sạch, giữ nét đẹp tự nhiên cũng là đảm bảo sự bền vững cho nền kinh tế du lịch của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Để những bờ biển Địa Trung Hải Châu Âu sẽ mãi giữ sức hấp dẫn không mai một.

Bùi Uyên