2026-02-01T22:30:00Z

Tây Nguyên : Nước mắt và Máu

Tây Nguyên : Nước mắt và Máu | Vietnam Fraternité

Tư liệu

Phóng sự & Tường thuật

Bài 1 

Tây Nguyên và thú dữ

Quang Nguyên, 30/08/2024

Việc kiểm soát được khu vực Cao nguyên Trung phần này chiếm lợi thế chiến lược quan trọng và là "chìa khóa" cho việc kiểm soát toàn bộ miền Nam 

Vietnam Fraternité

Phong thổ Tây Nguyên : mây trắng và rừng xanh.

Tây Nguyên là nơi sinh sống của nhiều sắc tộc thiểu số như người Êđê, Bana, Giarai, M’nông… Mỗi sắc tộc có ngôn ngữ, văn hóa, phong tục và tín ngưỡng riêng.

Theo sự phân chia hành chánh trước đây, thứ tự vị trí địa lý 5 tỉnh Tây nguyên trục Bắc-Nam là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, với một diện tích tổng cộng rộng khoảng 54.664 cây số vuông, tương đương với khoảng 17% diện tích cả nước (331.000 km2). Tây Nguyên phía bắc giáp Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri, Mondulkiri (Campuchia).

Vietnam Fraternité

Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 do Quốc hội ban hành ngày 12/06/2025, một số tỉnh thuộc khu vực này đã thực hiện việc hợp nhất để tinh gọn bộ máy và định hướng phát triển dài hạn. Cụ thể, vùng Tây Nguyên sau sáp nhập còn 3 tỉnh : Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk. Riêng hai tỉnh Kon Tum và Đắk Nông, sau khi sáp nhập, đã trở thành một phần của tỉnh Quảng Ngãi phía bắc và địa bàn tỉnh Đắk Nông thành một phần tỉnh Đồng Nai phía nam, cả hai không còn được xếp vào khu vực Tây Nguyên.

Tây nguyên là bàn đạp thuận lợi từ Việt Nam qua Lào, Campuchia, và đó cũng là hành lang xâm nhập Nam và Trung phần Việt Nam dễ dàng từ bên ngoài. Trong thời chiến tranh Nam Bắc trước 1975, việc kiểm soát Tây Nguyên giúp cắt đứt các tuyến đường tiếp tế và liên lạc của quân đội miền Bắc vào Nam.

Ngược lại, miền Bắc có thể làm suy yếu khả năng phòng thủ của miền Nam Việt Nam nếu họ làm chủ được một phần cao nguyên với địa hình đồi núi phức tạp, thuận lợi cho cả hai việc phòng thủ và tấn công. Việc kiểm soát được khu vực này chiếm lợi thế chiến lược quan trọng. 

Tài liệu giải mật của CIA công bố ngày 9/8/1999 cho biết tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng quốc phòng Bắc Việt nói, "Việc chiếm giữ và kiểm soát vùng Cao nguyên là giải quyết toàn bộ vấn đề của Nam Việt Nam".

Trước năm 1975, Vùng ll Chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa, gồm Tây Nguyên và 5 tỉnh duyên hải nam Trung phần, giám sát và ngăn chặn quân đội Bắc Việt xâm nhập miền Nam dọc theo dẫy Trường Sơn và Campuchia, Lào. Tháng 3/1975, sau khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa rút lui khỏi địa bàn Tây Nguyên, quân đội Bắc Việt tiến vào chiếm thành phố Ban Mê Thuột, thủ phủ Đắk Lắk, mở đầu cho cuộc tiến chiếm miền Nam Việt Nam với 21 sư đoàn quân chủ lực và địa phương. 

Tiến sĩ Gerald C. Hickey - một nhà nhân chủng học người Mỹ nổi tiếng với công trình nghiên cứu sâu rộng về các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là tại khu vực Tây Nguyên trong những năm 1950-1960, từng làm việc cho Tập đoàn RAND, một tổ chức tư vấn chiến lược cho chính phủ Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam - đánh giá Tây Nguyên là "chìa khóa" cho việc kiểm soát toàn bộ miền Nam. Đây là lý do mà cả Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, qua bình phong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đều tìm cách chiếm lĩnh khu vực này trong suốt cuộc chiến.

So với các vùng khác ở Việt Nam, Tây Nguyên phải đối mặt với những khó khăn lớn về điều kiện kinh tế – xã hội như dân trí, thiếu lao động được huấn luyện chuyên môn có tay nghề, cơ sở hạ tầng kém, và bất lợi hơn cả là các nhóm sắc tộc thường xảy ra bất hòa, không ít lần dẫn đến xung đột với nhau và cả xung đột với chính quyền Việt Nam.

Trong cuốn "Shattered World : Adaptation and Survival among Vietnam’s Highland Peoples during the Vietnam War" xuất bản năm 1982, Tiến sĩ Gerald C. Hickey cảnh báo rằng việc áp dụng các chính sách phát triển không phù hợp và thiếu sự hợp tác với các sắc tộc bản địa sẽ dẫn đến xung đột và bất ổn. 

Những cảnh báo của Hickey về việc áp dụng các chính sách phát triển không phù hợp và thiếu sự hợp tác với các sắc tộc bản địa vẫn còn rất đúng đến ngày nay. Thiếu hiểu biết về đất đai, thiếu nhạy bén về văn hóa, thiếu một chính sách phát triển bền vững vẫn là những yếu tố chính dẫn đến sự xung đột và bất ổn tại Tây Nguyên. 

1. Chiếm dụng đất và tài nguyên

Chính quyền Việt Nam đã tiếp tục thực hiện các dự án phát triển lớn ở Tây Nguyên, khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhiều dự án loại này đã dẫn đến việc thu hồi đất của các cộng đồng bản địa mà không tham vấn nhân dân địa phương, hoặc bồi thường không thỏa đáng. Đây là những nguyên nhân chính gây bất mãn và xung đột giữa các sắc tộc thiểu số bản địa và chính quyền.

2. Không đáp ứng văn hóa và nhu cầu của cộng đồng người bản địa

Các chính sách phát triển thiếu sự thông hiểu về nhu cầu văn hóa và xã hội của các sắc tộc bản địa, như không tôn trọng phong tục tập quán và cách quản lý truyền thống, thiếu hợp tác và tham vấn với các đại diện cộng đồng sắc tộc gốc bản địa dẫn đến sự xa cách và nghi ngờ đối với chính quyền.

3. Không quản lý và phát triển bền vững

Nhiều dự án phát triển ở Tây Nguyên không luôn được thực hiện theo hướng bền vững, dẫn đến các vấn đề môi trường như phá rừng và suy thoái đất. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống của các sắc tộc bản địa mà còn làm tăng sự bất ổn và xung đột.

4. Căng thẳng chính trị và xã hội

Vấn đề về đất đai và các chính sách phát triển đã dẫn đến một số cuộc biểu tình và xung đột tại Tây Nguyên trong những năm gần đây. Các cuộc biểu tình này thường liên quan đến việc các cộng đồng người địa phương phản đối các dự án mà họ không được hỏi ý hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của họ.

5. Quyền tự trị và đại diện chính trị

Các vấn đề về quyền tự trị và sự đại diện chính trị của các sắc tộc bản địa trong chính quyền và tại địa phương vẫn là một vấn đề quan trọng. Mặc dù có những cải cách và nỗ lực để tăng thêm sự tham gia của các sắc tộc thiểu số trong chính quyền, nhưng nhiều đại diện cộng đồng vẫn cảm thấy họ không có đủ quyền quyết định về các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của cộng đồng sắc tộc liên quan.

Theo nhà dân tộc học, tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, nguyên nhân những cuộc nổi dậy của người Thượng trên cao nguyên miền Trung (1), tóm tắt nguyên nhân cụ thể khiến Đời sống của người Thượng ngày càng xuống cấp, nếu không muốn nói đang trên bờ tuyệt chủng : 

– Mức sống của người Thượng hiện nay quá thấp so với người Kinh,

– Tỷ lệ người Thượng thiếu đói tăng cao so với toàn quốc,

– Ðất đai cổ truyền quanh những buôn làng Thượng mất đi ngày càng nhiều, người Thượng mất đất canh tác, bị dồn ép vào rừng sâu,

– Cộng đồng người Thượng luôn bị coi là những thứ dân hạng hai, bị khinh khi và lợi dụng.

Theo báo cáo của Tổ chúc Quan sát Nhân quyền, Human Rights Watch, đất đai của người Thượng ở Tây Nguyên ngày càng thu hẹp do bị người Kinh nhập cư và công ty nông nghiệp [quốc doanh] lấn chiếm bắt đầu từ khoảng năm 1975-1977. Đỉnh điểm của xung đột đất đai diễn ra trong nửa cuối những năm 1990.

Tuy nhiên, nhà nước tịch thu đất đai hoặc ép dân phải bán đất với giá bán hay mức bồi thường rẻ mạt. Đã vậy những đồng tiền còm cõi này lại còn bị các quan chức địa phương ăn bớt.

Trong các cuộc phỏng vấn và đơn khiếu nại gửi đến Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, người dân vùng cao nguyên cho biết thường là Sở Giáo dục tỉnh thay mặt chính quyền địa phương cho tịch thu các rẫy cà phê nhỏ để xây dựng trường học hoặc nhà hành chính mà không bồi thường một đồng nào.

Ở huyện Đăk Đoa, Gia Lai, đầu những năm 1980 các dòng suối mà người Jarai sử dụng để tưới tiêu bị nhà nước ngăn chuyển hướng để sử dụng cho các vườn trà và cà phê của nhà nước. Kể từ năm 1981, vào mùa khô thì người Jarai không có nước để trồng trọt, tới mùa gặt thì ruộng đồng lại bị ngập nước.

Ông Y Phic Hdok, một nhà đấu tranh cho nhân quyền viết trên Facebook ngày 21 tháng 8.

"...cùng với việc thu hồi đất đai một cách bất công do tham nhũng, đang tạo ra những lo ngại lớn. Người dân ngày càng mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

…Từ sau 1975, khi chiếm toàn bộ miền Nam Việt Nam, cộng sản cần làm chủ hoàn toàn Tây Nguyên về an ninh, quản lý chặt chẽ con người và khai thác triệt để kinh tế khiến vùng chiến thuật này càng bị đàn áp hơn nữa.

Người dân Tây nguyên sống tự do như thú rừng nay bị sập bẫy, càng giãy giụa, càng bị thợ săn siết chặt dây trói. Những cuộc kháng chiến chống cường quyền trong các dân tộc bị trị đã từng xảy ra, và đến nay bởi nhiều nguyên nhân bị bóc lột, áp bức vẫn đang xảy ra".

Quang Nguyên

(30/08/2024)

Tham khảo :

1. Nguyễn Văn Huy, "Cộng đồng người Thượng trên Cao nguyên miền Trung", Diễn Đàn Thông Tin, 14/06/2023

2.  https://www.hrw.org/reports/2002/vietnam/

https://www.hrw.org/reports/2002/vietnam/viet0402-02.htm

https://www.voanews.com/a/deadly-conflict-in-vietnam-s-central-highlands-ramps-up-persecution-of-ethnic-minorities-/7183904.html

 

**************************

 

Bài 2

Tây Nguyên đang đi về đâu ?

Quang Nguyên, 05/09/2024

Rừng còn không ? Suối còn không ? Nhà sàn còn không ? Nhà rông còn không ? Nhà rông [có cái mới cất] được gọi thế nhưng mái tôn, vách xi măng bà con có thích vào đấy đâu".

Vietnam Fraternité

Tan hoang rừng tự nhiên của dự án nông-lâm kết hợp ở Đắk Nông

Mất dần lịch sử, văn hóa, người Thượng Tây Nguyên trên bờ vong bản

Tây Nguyên, một vùng lãnh thổ chiến lược, từng là đất nước của những người hiền hòa, đang phải đối mặt với thách thức và suy thoái nghiêm trọng trên nhiều phương diện, từ kinh tế, môi trường cho đến xã hội và văn hóa. Nguyên nhân của sự suy thoái phức tạp và đa chiều này do chính sách cai trị muốn định hình vùng đất này theo ý chí của chính quyền Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam từ nhiều thập niên qua đã khuyến khích các chương trình di dân kinh tế từ các vùng đồng bằng lên Tây Nguyên. Một mặt nhà cần quyền muốn khai thác vùng đất phù trú này, mặt khác lại muốn sắc tộc bản địa bị pha loãng trong chính quê hương họ. Trên vùng đất phù trú chiếm 17% diện tích cả nước, người Thượng chỉ còn chiếm hơn 26%, người Kinh chiếm 65%, các sắc tộc khác chiếm 8%. 

Trước năm 1975, dân số vùng này chưa đến 1 triệu người, hiện nay đã hơn 5 triệu. Vì vậy đã làm tăng suy thoái môi trường và xung đột văn hóa, dân tộc. Hơn thế nữa, bởi vì sự kỳ thị, nghi ngờ nên chính quyền đã can thiệp thô bạo vào đời sống văn hóa và tôn giáo của các sắc tộc bản địa. Người Thượng rốt cuộc bị gạt ra ngoài lề, trở thành công dân hạng hai và bị ngược đãi trên chính quê hương của mình.

Người Thượng có truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, và phong tục riêng. Việc người kinh và các sắc tộc khác chiếm tuyệt đại đa số và các chính sách của chính phủ đặt ra làm mai một những giá trị đáng tôn trọng và bảo trì của người Thượng. Điều này đã dẫn đến việc người Thượng bị tước mất bản sắc văn hóa. Người kinh "thực dân" với sự khôn lanh sẵn có, với sự trợ lực của nhà cầm quyền đã ép mua, lấn chiếm đất đai, và gây nên tình trạng cách biệt kinh tế giữa người Kinh và người Thượng. 

Các công ty của chính phủ chiếm đất, chiếm nguồn nước đẩy người Thượng vào rừng sâu tìm đất sống nếu không muốn làm công cho những chủ nhân mới. Người Thượng ở Tây Nguyên dưới thời chính phủ mới phải chịu bất công nhiều hơn, nặng nề hơn so với thời thực dân Pháp cai trị.

Xóa bỏ lịch sử văn hóa, đồng hóa người Tây Nguyên

Lịch sử và văn hóa truyền thống của các sắc tộc bản địa đang dần bị chôn vùi do các chính sách lúc thì dã man, quỷ quyệt, lúc thì nhẹ nhàng của chính quyền.

Người Thượng Tây Nguyên vốn không có văn tự. Lịch sử, sử tích của họ được truyền miệng qua những lời kể "Khan", kể "Kutt’. Sử thi của các sắc tộc Tây Nguyên ngoài các câu chuyện về phong tục, tập quán, đạo đức, tình yêu lứa đôi, với môi trường, với muông thú, rừng, suối, tín ngưỡng còn là lịch-sử-nói về những biến cố của dân tộc, chiến công của các anh hùng bảo vệ buôn làng, chống lại thế lực ngoại xâm, giữ độc lập tự chủ và tự do cho bộ lạc. 

Sử thi giữ gìn cái gốc dân tộc, là di sản văn hóa, là giá trị tinh thần vô cùng quý giá của các sắc tộc bản địa Tây Nguyên. Người kể, lẫn người nghe đắm mình hòa vào nhịp thở, nhịp tim của dân tộc, cùng các thần linh, anh hùng dân tộc gắn kết với nhau. Những bản "tuyên ngôn độc lập" đoàn kết dân tộc được nhắc lại. Sử thi mất, di sản văn hóa của người Thượng cũng mất.

Sau năm 1975, lấy cớ đẩy mạnh nỗ lực xây dựng quốc gia thống nhất và loại bỏ "văn hóa đồi trụy", "chia rẽ dân tộc", chính quyền cộng sản Việt Nam không muốn người Thượng nhắc hậu duệ về những con người kỳ vĩ, những anh hùng của dân tộc, vì tự do, độc lập từng khởi nghĩa đấu tranh chống ngoại xâm là niềm tự hào của cộng đồng và được nhân dân tôn kính. 

Chính quyền Việt Nam có thời cấm đoán, đánh phá không thương tiếc, và cấm hẳn việc tụ tập đọc và nghe, giữ sử thi trong nhà, xem đó như một thứ nhạc vàng, mê tín, tuyên truyền phản động. Chính quyền cho đánh phá, thiêu hủy sách vở tài liệu lịch sử của dân miền Nam thế nào thì họ cũng thi hành những chính sách nghiệt ngã và xuẩn ngốc như vậy đối trên Tây Nguyên.

Những năm 90 cuối thế kỷ trước, tưởng chừng chính sách xóa bỏ lịch sử người Thượng đã chấm dứt, chính phủ cho phép sưu tập, in ấn một số bài sử thi. Sách in thật đẹp bìa cứng, nhưng chỉ vài trăm cuốn, được vài người mua về trưng trong tủ hay xếp trên kệ cho đẹp. 

Những bài sử thi được in lại chỉ nhắc đến những anh hùng kiểu Thạch Sanh Lý Thông của người Khmer, người Kinh hay chuyện tình yêu đôi lứa, rừng rú, thậm chí tệ hơn, xuyên tạc hơn bằng những câu chuyện tuyên giáo mới sáng tác như về buôn làng đổi mới (!).

Sử thi Tây Nguyên từng được một số tổ chức quốc tế quan tâm, vực dậy. Vài dự án bảo vệ sử thi như của Hội đồng Anh quốc, The British Council, nhưng hết tiền trợ cấp là xong tất cả không còn đọng lại chút dư âm. 

Thản hoặc, có vài hội thảo về sử thi Tây Nguyên như Hội nghị sơ kết đề tài sử thi Tây Nguyên 2022, xong hội thảo, tiêu xong tiền trợ cấp, là xong. Năm 2007 dự án sưu tầm, xuất bản "làm sống lại" sử thi kết thúc, nguồn cảm hứng của những người từng kể sử thi vừa sống lại đã chết theo luôn. 

Một vài nhà nghiên cứu trong nước lên Tây Nguyên đã tỏ ra đau xót về sự tan biến dần sử thi, mất toàn bộ các câu chuyện quan trọng trong sử thi. Nhưng họ chỉ dám nói về sự mất mát văn hóa nhưng hoàn toàn né tránh, không dám nói là lịch sử dân Tây Nguyên đã bị cố ý xóa bỏ.

Bà Linh Nga Niê Kdam, một nhà nghiên cứu sử thi nói gay gắt nhưng đau xót :

"Rừng còn không ? Suối còn không ? Nhà sàn còn không ? Nhà rông còn không ? Nhà rông [có cái mới cất] được gọi thế nhưng mái tôn, vách xi măng bà con có thích vào đấy đâu" (*).

Ngay cả nông lịch của Thượng cũng bị xóa bỏ. Chính quyền phổ biến nông lịch mới, trong đó không có nói tới thời gian nông nhàn với hội hè, lễ lạc của người dân.

Còn đâu bến nước, nhà rông, nhà dài, còn đâu rừng, không gian sâu lắng những người ngồi chung quanh lửa hồng nghe kể Khan, u mặc với giòng lịch sử của dân tộc, còn đâu tình cảm từ sâu thẳm tâm hồn nhớ lại các trang sử oai hùng và tình đoàn kết dân tộc.

Lớp già kể Khan phần lớn đã về với rừng, thể phách trao gửi cho mênh mông đại ngàn. Một số "nghệ nhân" mới qua các lớp huấn luyện là đảng viên, đoàn viên vô thần không giữ tín ngưỡng đa thần, rừng, nước, lửa, không thể truyền tải tình cảm hòa sử thi cần có, không có hứng khởi tâm linh, chỉ có thể đọc sử thi như máy.

Vietnam Fraternité

Văn hóa Cồng chiêng là linh hồn trong trái tim của những người con Tây Nguyên.

E dè văn hóa cồng chiêng và lịch sử đấu tranh của Tây Nguyên

Cồng chiêng không chỉ là một phần quan trọng của đời sống văn hóa các sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên mà còn gắn bó mật thiết với lịch sử và sự phát triển của vùng đất này. Cồng chiêng, một loại nhạc cụ có từ hàng trăm, ngàn năm trước, nằm trong lịch sử các sắc tộc bản địa, gắn liền với những nghi lễ truyền thống, lễ hội, và các sự kiện xã hội quan trọng.

Cồng chiêng cũng là biểu tượng của tâm linh và kết nối cộng đồng mang tính thiêng liêng và gắn liền với dòng chảy và số phận của dân tộc. Trong suốt lịch sử chống lại các thế lực bên ngoài, gồm cả các cuộc nổi dậy của người sắc tộc thiểu số như N’Trang Long hay phong trào FULRO, tiếng cồng, tiếng chiêng như một phương tiện cổ vũ tinh thần chiến đấu, chống áp bức, quyết tâm bảo vệ lãnh thổ Tây Nguyên trước sự xâm lấn từ bên ngoài.

Không thể thiếu sự hợp nhất của nhiều người để làm cồng chiêng lên tiếng. Khi Tây Nguyên bị chính quyền kiểm soát, âm thanh và cồng chiêng chỉ còn được trân trọng giữ gìn trong các nhà thờ công giáo. Giáo hội này quan niệm "Giáo hội cần tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau và thực hiện tiến trình hội nhập văn hóa". Tuy nhiên, do hội nhập tôn giáo, cồng chiêng có phần bị thay đổi

Mất dần không gian lễ hội, không còn là phần của các nghi lễ tín ngưỡng bản địa như trước đây, đến nay đánh cồng chiêng chỉ còn lấy tiền biểu diễn cho khách du lịch như đánh phèng la, phục vụ quan chức và khách du lịch.

Văn hóa cồng chiêng bị thương mại hóa không còn giữ được bản chất thiêng liêng và truyền thống, trở nên xa lạ với người dân bản địa và giảm bớt giá trị trong cộng đồng.

Chương trình giảng dạy trong trường học chưa thực sự phản ánh đầy đủ lịch sử người bản địa.

Hệ thống giáo dục hiện tại ở Việt Nam sử dụng một chương trình phổ thông thống nhất toàn quốc. Lịch sử là môn học bắt buộc "quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước". Học sinh gốc sắc tộc bản địa Tây Nguyên cũng học lịch sử của Việt Nam theo chuẩn chung, nhưng lại thiếu sự tập trung vào lịch sử, văn hóa và di sản của người bản địa trong vùng.

Mặc dù đã có một số cải tiến đưa thêm nội dung liên quan đến các sắc tộc thiểu số vào chương trình giảng dạy, nhưng các tài liệu và nội dung này vẫn còn rất hạn chế. Lịch sử, truyền thống và những cuộc đấu tranh của các sắc tộc thiểu số Tây Nguyên như Êđê, Bana, Giarai, M’nông… thường chỉ được đề cập một cách ngắn gọn và không được đào sâu, trong khi đó lịch sử đề cao Đảng cộng sản Việt Nam và các anh hùng Việt Nam.

Phải công tâm nói, một số tỉnh ở Tây Nguyên đã bắt đầu triển khai các chương trình giáo dục địa phương, trong đó gồm các môn học về lịch sử, văn hóa và phong tục của sắc tộc thiểu số bản địa. Tuy nhiên, việc thêm vào chương trình này vẫn chưa phổ biến và chưa được áp dụng một cách hệ thống trên toàn khu vực ; kết quả vẫn là một thực trạng đáng buồn. Học sinh bản địa học trường người kinh vài năm không còn biết đến lịch sử dân tộc, quên cả tiếng mẹ đẻ và chữ viết của dân tộc mình.

Hệ quả tiêu cực về sử thi Tây Nguyên, văn hóa cồng chiêng, và các giá trị văn hóa bản địa khác được trình bày sơ lược trên là những lo ngại về vong bản trong cộng đồng người Tây Nguyên. Thế hệ trẻ sẽ không còn hiểu rõ về lịch sử và văn hóa của chính mình. Người dân bản địa nói chung, đặc biệt giới trẻ đã và đang mất dần khả năng hiểu, tự hào về nguồn gốc của mình.

Văn hóa cồng chiêng và các sử thi như Đam San hay Xinh Nhã vốn là biểu tượng của sự kết nối với quá khứ và các thế hệ đi trước, nay những giá trị này không được duy trì, truyền dạy, thế hệ sau sẽ khó hiểu được bản sắc của mình và dân tộc, dẫn đến cảm giác xa lạ với di sản văn hóa, bị cuốn hút bởi những giá trị mới ngoại xâm mà không hiểu rõ về di sản của dân tộc mình.

Giới trẻ đang đi đến tình trạng mất gốc. Họ sẽ xa lánh hoặc cảm thấy xấu hổ về di sản bản địa của mình, dần đến việc từ bỏ các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu không có sự tự hào và kết nối với lịch sử văn hóa, bản sắc sắc tộc và chính sắc tộc có thể dần dần biến mất.

Khi không được học hoặc không có sự nhận thức đầy đủ về văn hóa bản địa, học sinh dễ mất đi niềm tự hào về sắc tộc mình, làm yếu đi sự đoàn kết và tinh thần cộng đồng, dẫn đến việc người dân Tây Nguyên cảm thấy bị cô lập hoặc lạc lõng trong chính xã hội của mình. Từ đó sẽ nảy sinh bất mãn hoặc xung đột văn hóa giữa các thế hệ hoặc giữa cộng đồng người bản địa với các nhóm khác trong xã hội.

Sử thi, cồng chiêng, và các yếu tố văn hóa bản địa khác không được truyền lại qua hệ thống giáo dục, các truyền thống này có nguy cơ bị biến mất vĩnh viễn. Lịch sử dân tộc, văn hóa cồng chiêng và các lễ hội truyền thống từng là phần cốt lõi của đời sống cộng đồng Tây Nguyên không còn được thực hành và truyền dạy, chúng có thể chỉ tồn tại như một phần của ký ức, không còn hiện diện sống động trong đời sống hiện đại. Tây Nguyên sẽ đi về đâu ?

Quang Nguyên

(05/09/2024)

(*) https://youtu.be/GUtiyQxcdB0

*************************

 

Bài 3 

Buôn làng Tây Nguyên bị phá vỡ

Quang Nguyên, 07/09/2024

Việc bãi bỏ Già Làng và bổ nhiệm đảng viên lãnh đạo buôn được xem là một bước thụt lùi đối với dân chủ và tự do trong cộng đồng người Thượng Tây Nguyên.

Vietnam Fraternité

Già làng Êđê sử dụng khèn

Trước năm 1975, cấu trúc hành chính và xã hội trong các buôn làng của sắc tộc bản địa Tây Nguyên, như người Êđê, Bana, Giarai, và M’nông…, mang tính truyền thống và tập quán lâu đời, không hoàn toàn phù hợp với mô hình dân chủ như chúng ta hiểu trong xã hội hiện đại, nhưng các hệ thống này vẫn có một số yếu tố tương đồng với khái niệm dân chủ cộng đồng.

Trong các buôn -đơn vị hành chánh truyền thống- là một khối dân với những gia đình cư sống trong một khoảng rừng (Georges Condominas). Người đứng đầu là Già Làng được tôn vinh dựa trên uy tín, kinh nghiệm, và sự kính trọng của cộng đồng.

Quyền lực của Già Làng không mang tính áp đặt, mà chủ yếu dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng và ý kiến đóng góp của các thành viên trong làng. Quyết định quan trọng như phân chia đất đai, xử lý các mâu thuẫn, hay tổ chức các nghi lễ đều thường được thảo luận trong hội đồng làng, nơi mọi người có thể lên tiếng và bày tỏ ý kiến.

Do vậy, dù không có một hệ thống bầu cử chính thức hay các thể chế dân chủ như hiện nay, cơ chế trong các buôn Tây Nguyên trước 1975 có tính đồng thuận cao, gần gũi với một hình thức dân chủ trực tiếp dựa trên sự tham gia của cộng đồng. Ngay cả khi cần áp dụng luật pháp, Già Làng hoặc/và hội đồng trong buôn sẽ chịu trách nhiệm phân xử.

Các quyết định thường dựa trên luật tục (pháp luật truyền miệng được truyền từ đời này sang đời khác) và tập quán truyền thống. Các hình phạt có thể là bồi thường bằng lương thực, vật nuôi, tài sản, hoặc lao động công ích, nặng hơn có thể bị trục xuất khỏi buôn. Chưa thấy có án bị hành xác, đánh đập, phạt tù hay tử hình.

Sau năm 1975, hệ thống tự trị truyền thống, vốn được điều hành bởi Già Làng và dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng đã có nhiều thay đổi đáng kể. Các điểm thay đổi chính, quan trọng về cấu trúc hành chính trong buôn làng là vai trò của Già Làng trong quảng lý hành chính và thay thế bằng cán bộ đảng viên.

Vai trò của Già Làng bị loại bỏ và quyền lực nằm trong tay cán bộ chính quyền. Già Làng, trước đây không chỉ là người lãnh đạo chính trị mà còn là người bảo vệ văn hóa, truyền thống luật tục và tín ngưỡng.

Sau 1975, vai trò của Già Làng trong quản lý hành chính bị chấm dứt khiến người dân mất đi sự kết nối với các phong tục truyền thống. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mà phong tục và lễ hội là một phần cốt lõi của đời sống tinh thần và xã hội của người sắc tộc thiểu số.

Thay vào đó, quyền hành chính được chuyển giao cho các cán bộ chính quyền, do nhà nước bổ nhiệm hoặc bầu ra. Cơ cấu này bao gồm các trưởng thôn, trưởng buôn. 

Cán bộ chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu phải là đảng viên. 

Cán bộ buôn là do chính quyền xã bầu hoặc bổ nhiệm. Vì không hiểu văn hóa, tập tục, tín ngưỡng và nhu cầu của dân dẫn đến dân không tin, không ưa, không hài lòng với cách thức quản lý hành chính mới của các cán bộ. Các chính sách và quyết định hành chính không còn xuất phát từ nguyện vọng và nhu cầu thực tế của người Thượng.

Người Thượng phải chấp nhận sống dưới sự áp đặt từ chính quyền trung ương, điều này tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa người dân và chính quyền. Người Thượng khó lòng chấp nhận các quyết định hành chính, luật lệ, nghị quyết, nghị địnhtừ trên đưa xuống.

Việc thay thế Già Làng không chỉ làm mất đi tính liên kết truyền thống mà còn làm cho sự gắn kết xã hội bị xáo trộn. Người dân có thể cảm thấy bị tách biệt khỏi hệ thống quản trị mới, không còn được tham gia trực tiếp vào các quyết định quan trọng của buôn làng, từ đó mất đi lòng tin và sự đoàn kết.

Hệ thống tự trị dân chủ và đầy tình người qua Già Làng và hội đồng buôn bị tước đoạt, người dân cảm thấy mất đi quyền tự quyết vốn truyền tải xuống từ bao thế hệ của mình. Quyền lực của Già Làng không chỉ là biểu tượng, mà còn bảo đảm cho sự ổn định và gắn kết xã hội dựa trên văn hóa, tín ngưỡng và luật lệ phong tục địa phương. Khi quyền lực này bị tước đoạt, người dân cảm thấy mất đi một phần quan trọng của đời sống và bản sắc đặc thù, số phận của họ nằm trong tay người xa lạ.

Vietnam Fraternité

Già làng A Lăng Đàn cùng các cán bộ Đồn Biên phòng A Nông vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Dù vậy hầu như người dân các buôn đều vẫn tôn trọng Già Làng dù các Già Làng không còn quyền quyết định trong các vấn đề hành chính, chính trị. Khi những Già Làng chết đi, người ta không bầu Già Làng mới. Buôn làng mất Già Làng là mất chỗ dựa tinh thần từng tồn tại hàng bao nhiêu năm.

Lo sợ lòng dân sẽ bất mãn, không tin tưởng đảng và nhà nước vì không còn Già Làng, Đảng cộng sản Việt Nam đặt ra những "người có uy tín trong vùng đồng bào các sắc tộc thiểu số", gọi đó là "Vai trò và đóng góp của lực lượng quần chúng đặc biệt" thay thế Già Làng (*).

Việc bãi bỏ Già Làng và bổ nhiệm đảng viên lãnh đạo buôn thực sự được xem là một bước thụt lùi đối với dân chủ và tự do trong cộng đồng người bản địa Tây Nguyên. Quyền tự do lựa chọn lãnh đạo, tự trị trong quản lý, và duy trì văn hóa truyền thống đã bị thu hẹp.

Thay vào đó, mô hình quản lý tập trung của đảng đã hạn chế sự tham gia tự do của người dân trong các quyết định chính trị, đồng thời làm mất đi tính dân chủ dựa trên sự đồng thuận cộng đồng.

Tương lai của các buôn làng Tây Nguyên và cộng đồng người bản địa đối mặt với nhiều thách thức khi họ vừa mất dần lịch sử, mai một văn hóa và mất quyền tự trị do bị áp đặt từ hệ thống chính trị tập trung.

Những yếu tố này không chỉ đe dọa sự tồn tại của bản sắc văn hóa mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và tương lai của các cộng đồng người bản địa Tây Nguyên. Mất Già Làng, mất tự chủ, bị cai trị bởi những đảng viên cộng sản vô thần, không hiểu truyền thống người bản xứ, cứng ngắc trong việc áp dụng luật pháp và người dân bị bóc lột, buôn làng Tây nguyên đã bị phá vỡ.

 Quang Nguyên

(07/09/2024)

Tham khảo :

(*) https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/cham-lo-xay-dung-doi-ngu-nguoi-co-uy-tin-trong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-gop-phan-thuc-hien-tot-chinh-sach-dan-toc

https://vietnamnet.vn/tich-cuc-van-dong-dong-bao-cac-dan-toc-chap-hanh-chinh-sach-phap-luat-2192189.html

https://tbinternet.ohchr.org/_layouts/15/treatybodyexternal/Download.aspx?symbolno=CERD%2FC%2FVNM%2FCO%2F15-17&Lang=en

https://suphamk2dalat.wordpress.com/nguoi-thuong-o-tay-nguyen/

https://www.bbc.com/vietnamese/entertainment/story/2005/08/050817_tuchitaynguyen

***************************

 

Bài 4 

Chính sách di dân tai hại lên Tây Nguyên

Quang Nguyên, 12/09/2024

Chính sách di dân lên Tây Nguyên đã làm nảy sinh những cuộc biểu tình và xung đột liên quan đến vấn đề đất đai, quyền tự trị và bảo vệ văn hóa của người Thượng vẫn tiếp diễn trong suốt nhiều năm qua.

Vietnam Fraternité

Diện tích trồng cao su đang cho khai thác của Công ty TNHH MTV 72 (Binh đoàn 15) ở xã Ia Nan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. 

Chính sách di dân lên Tây Nguyên của chính quyền Việt Nam, đặc biệt trong các thập niên sau năm 1975, đã có nhiều tác động xấu đáng kể đến người dân bản địa và môi trường tự nhiên. 

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ những năm 1970 đã thực hiện các chương trình di dân các tỉnh đồng bằng đến vùng Tây Nguyên nhằm khai hoang, phát triển kinh tế, và củng cố an ninh vùng biên giới. Người Kinh được khuyến khích định cư ở Tây Nguyên để khai thác đất đai và phát triển nông nghiệp. 

Các chương trình này có mục đích đưa Tây Nguyên trở thành một khu vực trù phú hơn về mặt kinh tế. Người dân bản địa Tây Nguyên vốn sinh sống trong vùng này lâu đời với mô hình kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, dựa vào đất rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên không bị ảnh hưởng xấu.

Sau năm 1975 chính quyền Việt Nam đưa ồ ạt người Kinh, và theo sau là những người sắc tộc khác, lên vùng cao nguyên có vị trí chiến lược quan trọng này. Chính quyền quảng bá chính sách di dân là cách để phát triển kinh tế khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, đất đai màu mỡ, rừng và du lịch. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng vấn đề an ninh và ổn định chính trị là một yếu tố quan trọng trong quyết định di dân. 

Tây Nguyên là một khu vực địa lý chiến lược, biên giới với Lào và Campuchia, nhìn xuống đồng bằng nam phần, từng là nơi xảy ra nhiều biến động lịch sử, như các phong trào kháng chiến của người Thượng trong thời kỳ chống Pháp, Mỹ, và cả sau khi Việt Nam thống nhất. Các phong trào ly khai của người Thượng, đặc biệt là sự nổi dậy của nhóm FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) vào những năm 1960-70, khiến Tây Nguyên trở thành một khu vực nhạy cảm về chính trị và an ninh. 

Chính sách di dân của chính quyền Việt Nam hiện thời hàm chứa một âm mưu thâm độc hơn là "pha loãng" mật độ dân cư nơi sinh trú của các sắc tộc bản địa, và cả việc tước đi lịch sử, văn hóa, luật tục của người bản địa nhằm giảm thiểu nguy cơ nổi dậy hoặc phản kháng đối với chính quyền. Hiện nay số di dân nhiều gấp 5 lần số dân cư bản địa. 

Bằng cách tăng cường sự hiện diện của người Kinh, biến người Kinh thành nhóm sắc tộc chiếm ưu thế về số lượng và quyền lực chính trị, kèm theo lực lượng an ninh quân đội cũng do người Kinh làm chủ lực, chính quyền kiểm soát và quản lý khu vực dễ dàng hơn trước. Mặc dù Đảng và Chính quyền có thể không công khai thừa nhận việc pha loãng dân số người Thượng là một mục tiêu chiến lược, nhưng qua những chính sách và hành động cụ thể, có thể thấy rằng chính quyền dành ưu tiên cho việc duy trì kiểm soát và ổn định Tây Nguyên. 

Việc kiểm soát an ninh trong buôn có phần gắt gao hơn trong làng người Kinh.

"Về tổ chức chính quyền, đứng đầu mỗi buôn làng là một trưởng thôn, một phó trưởng thôn, một công an viên phụ trách công tác an ninh, một thôn đội trưởng phụ trách chỉ huy đội dân quân tự vệ. 

Để tăng cường công tác an ninh, mỗi buôn làng được chia thành các nhóm liên gia, mỗi nhóm liên gia khoảng 15 – 20 hộ gia đình, nhà nằm liền kề nhau, đứng đầu là nhóm trưởng liên gia. Ngoài ra, có một cán bộ của đội công tác đặc biệt do xã cử xuống làm nhiệm vụ phát động quần chúng bảo vệ an ninh – chính trị. … 

Về tổ chức đoàn thể, mỗi buôn làng đều có các đoàn thể chính trị bao gồm : Đoàn Thanh niên, đứng đầu là Bí thư, Phó Bí thư ; Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, đứng đầu là Hội trưởng và Phó Hội trưởng. Các đoàn thể này có vai trò tổ chức quần chúng, là những cánh tay nối dài của Đảng và chính quyền trong việc triển khai các chủ trương chính sách phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ an ninh – chính trị buôn làng (*).

Gia tăng số lượng người di cư, quỹ đất dành cho các hoạt động truyền thống của người Thượng bị thu hẹp. Đất đai đã bị lấy để phân chia cho các hộ gia đình di dân, cũng như để phục vụ các dự án kinh tế lớn như các khu trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê, hồ tiêu…) và các dự án phát triển cơ sở hạ tầng. 

Khu công nghiệp khai thác quặng Bauxite cho đến nay vẫn là vết dao đâm sâu vào thịt người dân bản địa. Hàng ngày, dòng máu đỏ bauxite vẫn còn chảy, giết dần cao nguyên xanh tươi (**).

Vietnam Fraternité

Khu công nghiệp khai thác quặng Bauxite tỉnh Đăk Nông

Nhà báo Lê Phú Khải đã viết thư gửi tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngày 18/03/2009, rằng : 

Vấn đề bauxite còn nguy hại gấp trăm ngàn lần cải cách ruộng đất, vì nó hủy diệt cả dân tộc ta như các nhà khoa học đã dự báo. Mười năm nữa sông Đồng Nai và những con sông khởi nguồn từ Tây Nguyên bị nhiễm bùn đỏ thì cả miền Trung, Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh lấy gì mà uống, những bà mẹ sẽ đẻ ra toàn quái thai (***). 

Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là rừng và nguồn nước, đã gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng. Các con suối và nguồn nước ngọt của người Thượng bị ảnh hưởng do các hoạt động khai thác nông nghiệp và công nghiệp quy mô lớn. Các công ty quốc doanh ngang nhiên chiếm độc quyền nguồn nước vốn từ bao đời là của người dân.

Nhận định người Thượng trở thành công dân loại 2 ngay trên chính quê hương của họ có cơ sở khi nhìn vào tình trạng hiện tại của các sắc tộc bản địa Tây Nguyên. Bị kỳ thị, nghi ngờ và cũng vì trình độ văn hóa thấp, người Thượng bị coi là "lạc hậu" hay "chậm phát triển". Người Thượng có rất ít có đại diện trong bộ máy chính quyền địa phương. Người Thượng bị đối xử kém, bị loại khỏi quyền lợi chính trị, kinh tế và xã hội mà lẽ ra họ phải được hưởng bình đẳng.

Người Thượng bị tước đoạt quyền sử dụng và sở hữu đất đai truyền thống do các chính sách di dân, đất đai và khai thác tài nguyên của chính quyền. Đất đai là yếu tố sống còn trong đời sống kinh tế, văn hóa. Mất đất, người Thượng mất đi phương tiện sinh sống và phải phụ thuộc vào những công việc ít ổn định hơn. Người Thượng phải đi làm thuê cho các chủ đất mới là người Kinh hoặc các công ty.

Không còn khả năng kiểm soát tài nguyên, như đất rừng và nguồn nước khiến người Thượng càng rơi vào tình trạng nghèo khó và bế tắc, đồng thời càng phụ thuộc vào các nhóm cư dân mới đến. Người Thượng có ít cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế mới hoặc các dự án phát triển, phần lớn vì họ thiếu kỹ năng, kém cạnh tranh, dẫn đến việc người Thượng buộc phải làm những công việc có thu nhập thấp và không ổn định

Người Thượng thường có mức độ tiếp cận kém hơn với các dịch vụ giáo dục và y tế so với người Kinh và nhóm di dân khác. Chất lượng giáo dục tại các vùng của người Thượng thấp, nhiều trẻ em bỏ học do rào cản ngôn ngữ và điều kiện kinh tế khó khăn. Trong khi đó, các dịch vụ y tế công cộng tại các khu vực của người Thượng Tây Nguyên thiếu thốn đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa.

Xung đột và đàn áp

Chính sách di dân lên Tây Nguyên dành ưu tiên cho người Kinh, và các nhóm di cư khác cùng việc người Thượng đang mất dần quyền kiểm soát quê hương đã nảy sinh những cuộc biểu tình và xung đột liên quan đến vấn đề đất đai, quyền tự trị và bảo vệ văn hóa của người Thượng vẫn tiếp diễn trong suốt nhiều năm qua. Các cuộc biểu tình của người Thượng, khi phản đối chính sách đất đai hoặc các vấn đề về tài nguyên, và tôn giáo sau này thường bị dẹp tan bằng các biện pháp cứng rắn, kể cả đàn áp vũ trang của quân đội và công an.

Quang Nguyên

(12/09/2024)

Tham khảo :

(*) Tổ chức xã hội ở thôn làng Tây Nguyên hiện nay Bùi Minh Đạo (trang 71) Tạp chí Khoa học Việt Nam Trực tuyến https://vjol.info.vn › khxhvn › article › download 

(**) https://www.rfi.fr/vi/viet-nam/20141013-bauxite-tay-nguyen-cang-lam-cang-gay-hai

https://thanhnien.vn/bauxite-tay-nguyen-van-ngon-ngang-noi-lo-185886690.htm

https://boxitvn.online/ ?cat=1122

(***) https://baotiengdan.com/2017/07/01/loi-ai-dieu-hoi-ky-le-phu-khai-chuong-07m/#google_vignette

************************

 

Bài 5

Người Thượng Tây Nguyên – Con giun bị xéo mãi

Quang Nguyên, 14/09/2024

Chính quyền Việt Nam thường cáo buộc các nhóm tôn giáo người Thượng có liên hệ với FULRO và coi những người này là mối đe dọa an ninh quốc gia 

Vietnam Fraternité

Một toán lính người Thượng thuộc quân đội Việt Nam Cộng Hòa chuẩn bị đi tuần tại Buôn Đôn, Cao nguyên Trung phần vào năm 1964

Người Tây Nguyên, đặc biệt là các sắc tộc bản địa như Êđê, Bana, M’nông, đã khởi xướng nhiều cuộc chiến chống ngoại xâm.

N’Trang Long (1901 – 1936) là thủ lĩnh của người M’nông, nổi dậy chống lại sự cai trị của thực dân Pháp tại vùng Tây Nguyên vào đầu thế kỷ 20. Ông tập hợp các sắc tộc bản địa kháng chiến trong suốt hơn 30 năm. Cuộc kháng chiến thất bại nhưng ông trở thành biểu tượng anh hùng cho tinh thần chống ngoại xâm của tất cả người Tây Nguyên. 

Người Tây Nguyên cũng đã tham gia cùng Việt Minh kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), cản trở thực dân Pháp kiểm soát các khu vực chiến lược quan trọng tại Tây Nguyên.

Vị trí chiến lược của Tây Nguyên đã khiến khu vực này trở thành chiến trường ác liệt trong cuộc chiến giữa Bắc và Nam Việt Nam. Lúc này người Tây Nguyên hoặc theo quốc gia Việt Nam chống cộng hay ngược lại. Cũng nhiều người trợ chiến trong các lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ chống cộng sản xâm nhập Nam Việt Nam. 

Ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa, 26/10/1956 người Thượng đã dâng tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm một con voi trắng, thiêng liêng, hiếm quý, biểu thị danh dự và tầm quan trọng lớn theo truyền thống của người Thượng là chúc mừng và ban phước lành. Việc tôn vinh Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa theo cách này theo phong tục, hiếm khi xảy ra trong lịch sử của người Thượng. Họ trao gửi lòng tin, sự thuần phục và sự tôn trọng sâu sắc nhất của họ đối với Tổng thống Diệm.

Nhưng chỉ 2 năm sau, năm 1958, Phong trào BAJARAKA -Bahnar, Jarai, Rhade và Koho - do Y Bham Enuol lãnh đạo, được thành lập để phản đối Chính sách của Tổng thống Diệm. Mục tiêu của BAJARAKA là tạo ra một quốc gia riêng biệt với quyền tự quản của người Thượng, nhưng vẫn chung sống hòa bình với người Việt Nam. Tổng thống Diệm ngay lập tức đàn áp Phong trào này bằng võ lực. Bảy nhà lãnh đạo người Thượng : Y Bham Enuol, Paul Nur, Siu Sip, Y T’Hih Eban, Y Ju Eban, Nay Luett và Touneh Yoh đã bị kết án, mỗi người sáu năm tù.

1960 - Hồ Chí Minh đã lập ra phong trào "Mặt trận Tây Nguyên Giải phóng" và chỉ định một chủ tịch bù nhìn là Y Bih Aleo. Hàng ngàn thanh niên người Thượng bị bắt đi lính, sống trong những vùng chiến khu xa xôi để chiến đấu và hy sinh vì lợi ích cho Bắc Việt. Chủ tịch Đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh hứa hẹn sẽ khôi phục quyền tự chủ cho người Thượng sau khi giành chiến thắng ở Nam Việt Nam.

Ngày 12/02/1964, Y Bham Enuol và sáu nhà lãnh đạo BAJARAKA khác được trả tự do. Chính quyền Sài Gòn, lúc đó do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo bổ nhiệm Paul Nur làm Trợ lý Tỉnh trưởng Kontum và Y Bham Enuol làm Trợ lý Tỉnh trưởng Đắk Lắk sau ông này trở thành dân biểu quốc hội. 

Ông Y Bih Aleo – Người sắc tộc Ê Đê - được đề cử Tổng trưởng Bộ Sắc tộc. Ông là người đại diện cho các sắc tộc thiểu số Tây Nguyên trong chính quyền và được biết đến với vai trò thúc đẩy các chính sách dành cho người sắc tộc thiểu số. 

Y Bham Enuol và các nhà lãnh đạo người Thượng khác một lần nữa tổ chức một mặt trận ngầm mới có tên là "Mặt trận Giải phóng Người Thượng Cao nguyên" (FLHPM). Y Bham Enuol được các nhóm Khmer Krom và Champa ở Campuchia tiếp cận và đề nghị tham gia một mặt trận mới được thành lập mang tên FULRO, "Front Unifié de Lutte des Races Opprimées"- Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức. 

FULRO là một tổ chức chính trị-quân sự được thành lập vào thập niên 1960. Một số sắc tộc ở Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam thành lập tổ chức này năm 1964 bằng kết hợp ba phong trào chính BAJARAKA, Phong trào người Chăm đòi quyền tự trị cho sắc tộc Chăm và Phong trào Khmer Krom đòi lại đất cho người Khmer ở Nam Bộ.

Mục tiêu chính của FULRO là giành lại quyền tự trị cho các sắc tộc bản địa và chống lại sự chi phối của cả chính quyền Việt Nam miền Nam lẫn chính quyền miền Bắc. 

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, FULRO thực hiện các cuộc đấu tranh võ trang chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và một số khu vực miền Nam Việt Nam. FULRO ban đầu chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, sau đó tổ chức này cũng đối đầu dữ dội với chính quyền miền cộng sản Việt Nam khi miền Nam sụp đổ.

Vietnam Fraternité

Các toán biệt kích Mũ Nồi Xanh tổ chức và huấn luyện những đơn vị chiến đấu là người dân tộc thiểu số - để phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của quân đội Bắc Việt từ Bắc vào Nam - được gọi là "Lực lượng Dân sự chiến đấu" (CIDG - Civilian Irregular Defense Group).

Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975, FULRO vẫn tiếp tục tiến hành các cuộc xung đột nhỏ chống lại chính quyền mới. Đến cuối thập niên 1980, tổ chức này dần suy yếu do thiếu hỗ trợ, thiếu nguồn lực và sự đàn áp mạnh từ chính quyền Việt Nam.

Đến đầu những năm 1990, FULRO gần như tan rã. Tháng 12/1992, khoảng hơn 400 người FULRO còn lại do ông Y Pênh A Yun cầm đầu đã hạ cờ trước UNTAC, cơ quan chuyển tiếp của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia (The United Nations Transitional Authority in Cambodia).

Ngay khi kiểm soát toàn bộ miền Nam, Đảng cộng sản Việt Nam đã nuốt lời hứa của Hồ Chí Minh trao quyền tự chủ cho người Thượng sau khi giành chiến thắng ở Nam Việt Nam. Cao Nguyên Trung phần, Tây Nguyên, rơi vào thảm họa chưa từng thấy. Người bản địa Tây Nguyên phải đối mặt với những bất ổn xã hội do chính sách thâm độc của chính quyền Việt Nam. 

Chính quyền Việt Nam đã bị quốc tế chỉ trích về việc đàn áp, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo, phân biệt đối xử với những người theo đạo, và dùng võ lực đối phó các cuộc biểu tình đòi quyền tự do tôn giáo. 

Chính quyền Việt Nam chỉ công nhận các tổ chức tôn giáo được đăng ký với Nhà nước và chịu sự giám sát của cơ quan chức năng. Các nhóm tôn giáo không được công nhận, như Tin lành Đề Ga, "Hội thánh Tin lành đấng Christ, UMCC, "Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên", CHPC, đạo Hà Mòn, v.v. bị xem là bất hợp pháp và bị đàn áp mạnh mẽ. Một số linh mục công giáo bị giết một cách mờ ám, hay thủ phạm được cho là kẻ bị tâm thần.

Các báo cáo của các tổ chức nhân quyền cho rằng chính quyền địa phương đã dùng biện pháp cưỡng ép người Thượng từ bỏ đức tin. Một số trường hợp được ghi nhận là chính quyền đã phá dỡ nhà thờ hoặc không cho phép người dân tổ chức các buổi lễ tôn giáo tại nhà riêng.

Còn có thông tin về việc chính quyền ép buộc người dân ký cam kết từ bỏ đạo. Người dân bị đe dọa về kinh tế như mất trợ cấp, đất đai, hoặc công việc nếu không bỏ đạo.

Người Thượng đã nhiều lần tổ chức các cuộc biểu tình đòi quyền tự do tôn giáo và quyền lợi đất đai. Các cuộc biểu tình này thường bị chính quyền coi là mối đe dọa an ninh quốc gia và bị đàn áp bằng vũ lực. Ví dụ, các cuộc biểu tình lớn vào năm 2001 và 2004 ở Tây Nguyên đã bị đàn áp nặng nề, với nhiều người biểu tình bị bắt giữ và kết án tù.

Chính quyền cũng được cho là đã sử dụng các lực lượng vũ trang để đàn áp các cuộc biểu tình, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ và truyền thông để hạn chế thông tin về những cuộc đàn áp.

Người Thượng theo đạo Tin lành và Công giáo thường bị chính quyền giám sát chặt chẽ. Các hoạt động tôn giáo, chẳng hạn như tổ chức lễ nhà thờ, phải xin phép chính quyền và bị kiểm soát kỹ lưỡng.

Nhiều người dân Tây Nguyên báo cáo rằng các buổi họp tôn giáo hoặc lễ nghi thường bị can thiệp hoặc cấm đoán, đặc biệt là khi tổ chức ở quy mô lớn hoặc có yếu tố chống đối.

Cũng có những báo cáo về việc chính quyền đưa các tín đồ Tin lành và Công giáo vào các trại "cải tạo" với mục đích giáo dục lòng trung thành với nhà nước và từ bỏ đức tin tôn giáo để hòa nhập vào xã hội dưới sự kiểm soát của chính quyền.

Chính quyền Việt Nam thường cáo buộc các nhóm tôn giáo người Thượng có liên hệ với FULRO và coi những người này là mối đe dọa an ninh quốc gia. Điều này đã tạo cớ cho chính quyền đàn áp các nhóm tôn giáo thiểu số với lý do bảo vệ an ninh quốc gia.

Chính quyền Việt Nam luôn giám sát, đối xử không công bằng, xóa bỏ lịch sử, văn hóa truyền thống, chiếm đoạt đất đai, nguồn nước của dân bản địa Tây Nguyên. Thêm vào đó, chính quyền lại đang giám sát sâu và gia tăng đàn áp các nhóm tôn giáo thiểu số ở Tây Nguyên gây nên căng thẳng giữa chính quyền và người Thượng. Tây Nguyên vẫn là điểm nóng, nhạy cảm về an ninh và xã hội và đó là nguyên nhân cho cuộc nổi dậy đẫm máu năm 2023.

Quang Nguyên

(14/09/2024)

Tham khảo

https://www.hrw.org/news/2002/04/23/vietnams-repression-montagnards

https://www.refworld.org/reference/countryrep/hrw/2002/en/40633

https://www.rfa.org/english/commentaries/vietnam-montagnards-10232018155849.html

https://baogialai.com.vn/tay-nguyen-xay-dung-the-tran-long-dan-vung-chac-bai-1-tu-nhung-bai-hoc-dat-gia-post92106.html

https://special.nhandan.vn/ao-vong-ve-nha-nuoc-dega-tu-tri/index.html

https://www.mhro.org/montangards-history

***************************

 

Bài 6 

Hai cuộc biểu tình 2001, 2004 tại Tây Nguyên

Quang Nguyên, 19/09/2024

Hai cuộc biểu tình lớn của người Thượng ở Tây Nguyên vào năm 2001 và 2004 thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế bởi các biện pháp đàn áp mạnh mẽ từ phía chính quyền Việt Nam và đến nay vẫn còn để lại hậu quả là những nguy cơ tiềm ẩn về an ninh chính trị.

Vietnam Fraternité

Hoạt động nhóm họp, sinh hoạt tôn giáo của Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên.

Hai cuộc biểu tình lớn của người Thượng ở Tây Nguyên vào năm 2001 và 2004 là những sự kiện đáng chú ý trong lịch sử hiện đại của khu vực này, thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế bởi các biện pháp đàn áp mạnh mẽ từ phía chính quyền Việt Nam và đến nay vẫn còn để lại hậu quả là những nguy cơ tiềm ẩn về an ninh chính trị. Hai cuộc biểu tình này chủ yếu đòi lại quyền sở hữu đất đai và tự do tôn giáo của người bản địa. Phản ứng của chính phủ Việt Nam là đàn áp khắc nghiệt và cắt đứt thông tin từ khu vực này, hạn chế sự đưa tin của các phương tiện truyền thông quốc tế và các tổ chức nhân quyền.

Năm 2001, hàng ngàn người Thượng đã biểu tình phản đối việc tịch thu đất đai và hạn chế đạo Tin lành. Chính phủ đã phản ứng bằng bạo lực, bắt giữ và giải tán người biểu tình. 

Năm 2004, một làn sóng biểu tình khác nổ ra, do những bất bình tương tự về đất đai và tự do tôn giáo. Chính quyền Việt Nam đã đàn áp dã man hơn, hạn chế nhiều hơn việc tiếp cận khu vực này. 

Nhiều người Thượng đã chạy sang Campuchia, xin tị nạn. Campuchia ban đầu chấp nhận một số người tị nạn nhưng sau đó đóng cửa biên giới và trục xuất nhiều người trở về Việt Nam, bất chấp những lo ngại của quốc tế về sự an toàn của những người bị buộc trở về nước.

Các tổ chức như Human Rights Watch đã liên tục ghi nhận hành vi đàn áp người Thượng của chính quyền Việt Nam, như việc sử dụng vũ lực quá tàn nhẫn, phá hủy nhà thờ và cưỡng bức hồi hương những người xin tị nạn từ Campuchia. Việc tiếp cận thông tin đáng tin cậy vẫn còn khó khăn do chính quyền ra lệnh hạn chế đi lại trong khu vực.

1. Cuộc biểu tình năm 2001

Cuộc biểu tình diễn ra vào tháng 2 năm 2001 với hàng ngàn người Thượng tham gia. Cuộc biểu tình kéo dài vài ngày, tập trung tại các thành phố lớn của Tây Nguyên như Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) và Pleiku (Gia Lai).

Nguyên nhân :

Đòi quyền đất đai : Người Thượng, đặc biệt là các sắc tộc bản địa ở Tây Nguyên như Êđê, Giarai, Bana và M’nông bị mất đất đai truyền thống và nguồn nước vào tay các đồn điền cao su và cà phê do chính quyền. Chính quyền cũng thu hồi những vùng đất rất lớn và trù phú, giàu tài nguyên để thực hiện các dự án kinh tế, hay công nghiệp như khai thác bauxite khiến người Thượng mất nguồn sinh kế và phải di cư đến những vùng đất khô cằn.

Đòi tự do tôn giáo : Nhiều người Thượng theo đạo Tin Lành, đặc biệt là Tin Lành Đề Ga bị đàn áp tôn giáo. Chính quyền không cho các nhà thờ được đăng ký và cưỡng ép từ bỏ đức tin. Sự can thiệp vào tôn giáo và các quyền tự do tín ngưỡng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc biểu tình.

Yêu cầu quyền tự trị : Mặc dù phong trào FULRO đã hạ cờ, giải giáp trước lực lượng chuyển giao quyền lực của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia và không có ảnh hưởng trong những cuộc biểu tình này, nhiều người Thượng vẫn tiếp tục ấp ủ mong muốn được tự quyết trong việc quản lý vùng đất của mình.

Đòi bình đẳng với người Kinh thực cư. Nhà nước chỉ ưu tiên đầu tư cho vùng có người Kinh di cư đến và ở trung tâm thị xã, bỏ mặc người Thượng đói ăn, nhà ở dột nát, trẻ không thể đến trường và phải theo cha mẹ vào rừng đào rễ cây sống qua ngày.

Diễn biến : Hàng ngàn người Thượng, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em, đã tham gia các cuộc biểu tình ở Buôn Ma Thuột và Pleiku, mang theo biểu ngữ đòi quyền tự do tôn giáo, quyền sử dụng đất đai và quyền tự trị. Cuộc biểu tình diễn ra khá ôn hòa lúc ban đầu, nhưng sau đó xung đột bùng phát khi chính quyền huy động lực lượng vũ trang để dập tắt.

Đàn áp mạnh mẽ : Chính quyền huy động lực lượng an ninh để trấn áp biểu tình. Nhiều báo cáo cho thấy lực lượng công an và quân đội đã sử dụng bạo lực, bắt giữ và đánh đập người biểu tình. Nhiều người đã thiệt mạng và hàng trăm người bị thương, mặc dù con số cụ thể vẫn chưa tìm ra đầy đủ.

Sau cuộc đàn áp, hàng ngàn người Thượng đã phải chạy trốn vào rừng hoặc vượt biên sang Campuchia để tránh sự truy đuổi của chính quyền. Nhiều người đã bị bắt giữ và giam cầm.

Hệ quả : Chính quyền Việt Nam sau đó đã thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt khu vực Tây Nguyên, như tăng cường an ninh, giám sát các hoạt động tôn giáo, và quản lý đất đai. Các cuộc biểu tình năm 2001 đã khiến tình hình Tây Nguyên trở thành một vấn đề nhạy cảm trong mối quan hệ giữa người Thượng và chính quyền.

Vụ việc này cũng thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các tổ chức nhân quyền như Human Rights Watch, lên án sự đàn áp các cuộc biểu tình của chính quyền Việt Nam.

2. Cuộc biểu tình năm 2004

Sau cuộc đàn áp năm 2001, căng thẳng giữa người Thượng và chính quyền không lắng xuống mà tiếp tục âm ỉ, và đỉnh điểm là cuộc biểu tình lần thứ hai vào tháng 4 năm 2004. Cuộc biểu tình này cũng diễn ra ở các tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai với quy mô lớn và có nhiều điểm tương đồng với cuộc biểu tình năm 2001.

Nguyên nhân : Thực hiện kế hoạch pha loãng dân bản địa Tây Nguyên, sau cuộc biểu tình năm 2001, chính quyền đẩy mạnh các dự án di cư người Kinh từ các tỉnh đồng bằng lên Tây Nguyên, làm gia tăng căng thẳng về đất đai và văn hóa. 

Người Thượng bị áp bức về mặt kinh tế, văn hóa và chính trị từ chính quyền và người Kinh nhập cư. Người di cư càng ngày càng giàu lên, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, xung đột xã hội có chiều hướng gia tăng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. 

Bản sắc văn hóa các sắc tộc ở Tây Nguyên ngày càng bị mai một, không gian sống, không gian văn hóa của cộng đồng người Thượng ngày càng bị thu hẹp. 

Giọt nước làm tràn ly phẫn nộ của người dân là hệ thống cai trị càng bộc lộ sự quan liêu, thối nát, bất tài dẫn đến người dân nhức nhối, hiểu được họ chỉ là công dân hạng 2, thấp kém, bị bóc lột trên chính quê hương mình.

Diễn biến : Cuộc biểu tình diễn ra vào tháng 4 năm 2004 vào dịp Lễ Phục Sinh với hàng chục ngàn người Thượng tham gia tại các tỉnh Đắk LắK, Đắk Nông, Gia Lai.Trong 2 ngày, người Thượng biểu tình nhằm mục tiêu đòi quyền lợi đất đai và tự do tôn giáo cùng quyền tự trị.

Chính quyền sử dụng các biện pháp tàn bạo để trấn áp cuộc biểu tình. Công an, quân đội và các lực lượng an ninh khác đã được triển khai để giải tán đám đông và bắt giữ những người dẫn đầu biểu tình. 

Báo cáo từ các tổ chức nhân quyền cho thấy có những vụ bắt bớ, tra tấn và thậm chí là giết hại người biểu tình, mặc dù chính quyền Việt Nam luôn phủ nhận những cáo buộc này. 

Tổ chức Ân Xá Quốc tế ghi rõ tên và trường hợp 8 người dân bị giết, trong đó có một người mù. 

- Bà H’Lo Kbuor, mù, người huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk. Được chết vào ngày 10/4/2004 ở ngoại ô thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Ông Ksor Hnun ở buôn Plei Ring, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai bị bắn chết vào ngày 11/4/2004 tại tỉnh Gia Lai.

- Ông Siu Plen, 33 tuổi, người buôn Bon Ama Djong, huyện Ayun Pa, tỉnh Gia Lai bị giết vào ngày 10/4/2004 tại tỉnh Gia Lai.

- Ông Ksor Jo, 33 tuổi, ở buôn Bon Hoang, huyện Ayun Pa, tỉnh Gia Lai bị giết sau các cuộc biểu tình ở tỉnh Gia Lai.

- Ông Y’Bhit Enuol, Buon Dah Prong, Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị giết vào ngày 10/4/2004.

- Ông Y’Dlah Eban, Buon Dah Prong, Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị giết vào ngày 10/4/2004.

- Ông Y’Wien, Buon Dah Prong, Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị giết vào ngày 10/4/2004.

- Ông Y’Luyen Eban, Buôn Cuor Knia, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk bị giết vào ngày 10/4/2004.

Ngoài một số người bị bắt và được thả sau đó, các nguồn tin không chính thức cũng đưa tin rằng hàng trăm người tham gia các cuộc biểu tình đã mất tích (1).

Trong khi đó Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ thông tin chỉ có 2 người chết. Trong 2 người chết, một người bị chính những người biểu tình ném đá chết, một người thì do máy cày của những người biểu tình đè chết (2).

Sau cuộc biểu tình, chính quyền tiếp tục giám sát chặt chẽ các hoạt động của người Thượng ở Tây Nguyên. Việc đàn áp các cuộc biểu tình đã làm gia tăng sự lo ngại của cộng đồng quốc tế về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

Nhiều người đã tìm cách trốn sang Campuchia, hy vọng được tị nạn chính trị, nhưng phần lớn đã bị Campuchia bắt giữ và trao trả lại cho chính quyền Việt Nam.

Vietnam Fraternité

Người Thượng bỏ Tây Nguyên chạy sang Campuchia xin tỵ nạn - hình tư liệu

1. Phản ứng từ các tổ chức nhân quyền :

Human Rights Watch (HRW) là một trong những tổ chức quốc tế lên tiếng mạnh mẽ nhất về các vụ biểu tình của người Thượng. Tổ chức này đã công bố nhiều báo cáo chi tiết về các cuộc biểu tình, trong đó tố cáo chính quyền Việt Nam đã sử dụng vũ lực đàn áp người biểu tình, bắt giữ hàng trăm người, và vi phạm nghiêm trọng quyền con người. HRW đặc biệt chỉ trích việc chính quyền Việt Nam đàn áp tín đồ Tin Lành người Thượng và cấm các hoạt động tôn giáo không được nhà nước công nhận.

HRW cũng nhấn mạnh rằng sau các cuộc biểu tình, nhiều người Thượng bị tra tấn, bức hại, và một số bị ép buộc từ bỏ đạo Tin Lành. Tổ chức này đã kêu gọi chính quyền Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn giáo và đối xử công bằng với người Thượng. 

Amnesty International : Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng chỉ trích chính quyền Việt Nam về việc đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền đối với người Thượng ở Tây Nguyên. Amnesty International nhấn mạnh rằng các quyền tự do biểu đạt và tự do tôn giáo của người Thượng đã bị xâm phạm nghiêm trọng. Tổ chức này cũng kêu gọi các nước khác gây áp lực lên Việt Nam để bảo đảm quyền con người cho người Thượng.

Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) : USCIRF đã đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm (Countries of Particular Concern – CPC) vì các hành vi vi phạm quyền tự do tôn giáo, đặc biệt là đối với người Thượng theo đạo Tin Lành. Tổ chức này cũng kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép để yêu cầu Việt Nam cải thiện tình hình nhân quyền và tôn giáo.

2. Phản ứng từ các quốc gia dân chủ phương Tây :

Hoa Kỳ : Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Đại sứ quán và Bộ Ngoại giao, đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về các cuộc đàn áp người Thượng ở Tây Nguyên. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra các báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, trong đó chỉ trích cách chính quyền Việt Nam xử lý các cuộc biểu tình và các vi phạm nhân quyền liên quan đến người Thượng.

Hoa Kỳ đã cân nhắc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC trong những năm sau các cuộc biểu tình. Điều này gây áp lực lên Việt Nam trong việc cải thiện tình hình tự do tôn giáo và nhân quyền, đặc biệt là đối với các cộng đồng thiểu số ở Tây Nguyên.

Liên Hiệp Châu Âu (Liên Âu) : Liên Âu cũng bày tỏ lo ngại về các cuộc đàn áp ở Tây Nguyên và kêu gọi Việt Nam cải thiện tình hình nhân quyền. Nhiều quốc gia thành viên Liên Âu đã lên tiếng chỉ trích Việt Nam về các hành vi vi phạm nhân quyền trong quá trình đàn áp các cuộc biểu tình và kêu gọi chính quyền bảo đảm quyền lợi cho các nhóm sắc tộc thiểu số.

3. Phản ứng từ các tổ chức quốc tế khác :

Liên Hiệp Quốc : Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) và các cơ chế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, như Báo cáo viên đặc biệt về quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, đã bày tỏ lo ngại về tình hình người Thượng ở Tây Nguyên, đặc biệt là việc chính quyền sử dụng vũ lực để đàn áp các cuộc biểu tình và vi phạm quyền tự do tôn giáo. Liên Hiệp Quốc kêu gọi chính quyền Việt Nam tôn trọng quyền con người và tiến hành điều tra các cáo buộc vi phạm nhân quyền.

4. Phản ứng của chính quyền Việt Nam :

Chính quyền Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc từ cộng đồng quốc tế, khẳng định rằng các cuộc biểu tình là do các thế lực thù địch từ bên ngoài kích động và người Thượng không bị đàn áp về tôn giáo hay quyền lợi. Chính quyền tuyên bố rằng các biện pháp an ninh được thực hiện để duy trì trật tự và ổn định, và rằng họ đã cung cấp các điều kiện tốt hơn cho người Thượng ở Tây Nguyên về phát triển kinh tế và xã hội.

Chính quyền Việt Nam cũng phản bác lại các cáo buộc của các tổ chức nhân quyền quốc tế và coi đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm gây bất ổn cho đất nước.

Kết luận :

Các cuộc biểu tình của người Thượng ở Tây Nguyên đã nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là từ các tổ chức nhân quyền và các quốc gia phương Tây. Mặc dù có áp lực quốc tế, chính quyền Việt Nam vẫn duy trì quan điểm cứng rắn và bác bỏ các cáo buộc đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền. 

Vấn đề người Thượng ở Tây Nguyên, gồm các quyền tôn giáo, quyền sử dụng đất đai và tự do chính trị, cho đến nay vẫn là những điểm nhạy cảm của chính quyền đối với người Thượng và trong quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Tất cả là nguyên nhân những cuộc đàn áp khốc liệt hơn của chính quyền Việt Nam đối với người Thượng Tây Nguyên. 

Quang Nguyên

(19/09/2024)

Tham khảo

(1) https://www.amnesty.org/en/documents/ASA41/005/2004/en/

(2) https://vietnamembassy-usa.org/vi/tin-tuc/2004/04/su-ve-vu-gay-roi-o-tay-nguyen

https://www.hrw.org/reports/2006/vietnam0606/1.htm

https://unpo.org/?s=vietnam+highland

https://unpo.org/unpo-and-montagnards-community-report-land-confiscation-and-injustice-against-kho-indigenous-people-in-kren-hamlet-lam-dong-province-vietnam/

https://www.hrw.org/news/2002/04/23/vietnams-repression-montagnards

**************************

 

Bài 7

Đàn áp tự do tôn giáo tại Tây Nguyên

Quang Nguyên, 20/09/2024

Chính quyền thường sử dụng các biện pháp hành chính và pháp lý để hạn chế quyền tự do tôn giáo của người Thượng, không cấp phép cho các hoạt động tôn giáo, và làm khó những lãnh đạo tôn giáo không được nhà nước công nhận.

Vietnam Fraternité

Các tín đồ theo "Tin lành Đề Ga" ở Gia Lai bị đưa ra kiểm điểm và giáo dục công khai trước dân. (Ảnh: Báo Biên phòng)

Chính quyền Việt Nam đã bị quốc tế cáo buộc nhiều lần về việc đàn áp tôn giáo trong cả nước, nói chung, và đối với người Thượng ở Tây Nguyên nói riêng. Tây Nguyên có đông đảo người sắc tộc thiểu số như Êđê, Jarai, Bahnar, và nhiều nhóm khác. Người Thượng theo các tôn giáo chính thống như đạo Tin lành, Công giáo, Phật giáo, Hòa hảo, Cao đài và các tín ngưỡng truyền thống.

Tôn giáo, tùy theo từng hệ phái và quan điểm, không chỉ tập trung vào thờ phượng đấng thiêng liêng và yêu thương con người, mà còn bao hàm trách nhiệm xã hội sâu rộng hơn. Nhiều tôn giáo khuyến khích tín đồ không chỉ làm việc thiện mà còn tham gia vào những hành động bảo vệ công lý, công bằng xã hội, và quyền con người.

Ví dụ, Kitô giáo, một trong những lời răn chính là yêu thương người khác như chính mình và giúp đỡ những người nghèo khổ. Giáo hội Công giáo dưới thời Giáo hoàng Francis đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc đấu tranh chống lại bất công xã hội, bảo vệ người di cư, và bảo vệ môi trường.

Phật giáo cũng khuyến khích các tín đồ thực hành từ bi, hỉ xả, sống vì lợi ích của người khác và làm việc để giảm bớt đau khổ. Đức Phật từng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp đỡ những người khốn khó và xây dựng một xã hội hòa bình, công bằng.

Các phong trào tôn giáo như Thần học Giải phóng ở Mỹ Latinh, cũng là một minh chứng cho việc tôn giáo có thể đóng vai trò trong việc đấu tranh cho công lý xã hội, khi các nhà lãnh đạo tôn giáo đứng lên chống lại áp bức và bất công.

Các tôn giáo phát xuất từ Việt Nam như Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng vậy, không chỉ giới hạn ở sự thờ phượng đấng thiêng liêng mà còn bao gồm những giá trị hành động thiết thực, bảo vệ quyền lợi tổ quốc và cuộc sống của con người trong xã hội. Chính vì vậy, Đức Huỳnh Giáo chủ của Phật giáo Hòa Hảo đã bị cộng sản bắt cóc, thủ tiêu.

Chính vì tôn giáo thường kêu gọi công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người và đối đầu với các bất công, nên trong những chế độ độc tài, toàn trị hoặc đảng trị, tôn giáo bị coi là mối đe dọa. Những chính quyền này lo sợ rằng các tổ chức tôn giáo có thể huy động sức mạnh của người dân để chống lại các chính sách áp bức, đòi hỏi tự do và công lý. Chính Chúa Giê-Su bị giết vì người ta sợ "Ngài Lật Đổ Chính Quyền". Chúa Giê-su khi giảng đạo đã có hàng ngàn người đi theo, trong đó có nhiều người yêu nước mong muốn Ngài đứng lên giải phóng Do Thái khỏi tay nô lệ La Mã.

Tôn giáo có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người yếu thế và đấu tranh cho quyền con người, khiến các chính quyền độc tài cảm thấy bị thách thức. Các nhà lãnh đạo tôn giáo, mục sư, linh mục, tu sĩ hoặc tín đồ có thể bị giám sát, hạn chế hoạt động hoặc thậm chí bị đàn áp, bị giết ngay cả trong trường hợp họ không làm gì ngoài việc phụng thờ đấng thiêng liêng và lo cho phần hồn của tín đồ. 

Khi kiểm soát được một nửa đất nước qua hiệp định Genève 1954, chính quyền cộng sản đã thẳng tay tiêu diệt tôn giáo, hàng ngàn nhà thờ, chùa chiền bị phá hủy hay biến thành kho hợp tác xã, nuôi trâu bò. Hàng ngàn tu sĩ bị bắt hoàn tục, bỏ tù hay đưa ra đấu tố.

Tại Việt Nam, Giáo hội Tin lành, Công giáo, Phật giáo, và nhiều tôn giáo khác đã bị giám sát nghiêm ngặt hoặc cấm đoán dù họ chỉ là mong muốn có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo cùng những quyền cơ bản khác của con người. Việt Nam dựng lên các tổ chức tôn giáo "quốc doanh" nhằm kiểm soát các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội thánh Tin lành Miền Bắc, Hội thánh Tin lành Miền Nam, Ủy ban Đoàn kết Tôn giáo, hoặc ngay cả tiêu diệt một tôn giáo nào đó để dựng một tôn giáo khác. 

Họ tiêu diệt tôn giáo Cao đài chính truyền từ Thượng đế để lập nên một tôn giáo giả là Chi phái Cao đài 1997, với tên gọi Hội thánh Cao đài Tòa thánh Tây Ninh do ngụy tu sĩ Nguyễn Thành Tám cầm đầu. Chính quyền tạo dựng và nuôi dưỡng những ngụy tu sĩ nhằm kiểm soát và thao túng chính tôn giáo mà họ là thành viên, hoặc tạo dựng những tôn giáo, tín ngưỡng, niềm tin khác để phục vụ cho mục đích chính trị. 

Ông Nguyễn Thành Tám của Cao đài Chi phái 1997, Thích Nhật Từ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông Trương Bá Cần bên Công giáo, hay hai ông Nay Sia và Y Tuân Mlô của Giáo hội Tin lành Miền Nam Việt Nam là những ngụy tu sĩ kiểu này.

Trong lịch sử hiện đại, Công giáo và Tin Lành là hai tôn giáo bị chế độ cộng sản đàn áp khốc liệt nhất. Hai nhánh chính của Kitô giáo này đã có những ảnh hưởng lớn đến tiến trình xã hội và sự thăng tiến của con người, đặc biệt trong bối cảnh các chế độ độc tài và toàn trị.

Công giáo và Tin lành có truyền thống lâu dài về việc đấu tranh cho quyền con người và công bằng xã hội, bảo vệ những người bị áp bức, chống lại bất công và cải thiện điều kiện sống cho người nghèo, khuyến khích sự tự do cá nhân và trách nhiệm xã hội. 

Chế độ cộng sản toàn trị lo sợ tôn giáo, vì những tổ chức tôn giáo có khả năng đoàn kết và tổ chức quần chúng, khuyến khích tư tưởng tự do, nhân quyền, và chống lại sự bất công. Tôn giáo có mạng lưới tổ chức mạnh mẽ với hàng triệu tín đồ. Điều này tạo điều kiện cho việc tổ chức các phong trào quần chúng nhằm đòi hỏi công lý, tự do và quyền lợi cho con người.

Bằng cách ủng hộ quyền tự do, công bằng xã hội, và thăng tiến con người, tôn giáo trở thành một thách thức trực tiếp đến quyền lực của các chính quyền độc tài vốn muốn kiểm soát toàn bộ mọi khía cạnh của đời sống.

Tại Tây Nguyên, một số nhóm sắc tộc không chỉ theo các tôn giáo mà còn kèm theo đòi quyền tự trị hoặc. Tin lành Đề Ga là một ví dụ điển hình, vì ngoài tôn giáo thì còn liên quan đến phong trào đấu tranh vì quyền lợi của người Thượng. Chính quyền lo ngại rằng những phong trào này có thể gây ra bất ổn xã hội và chính trị.

Chính quyền Việt Nam đưa ra nhiều biện pháp để theo dõi, giám sát, ngăn chặn hoạt động của nhiều tôn giáo và đi đến cấm đoán, đàn áp. Chính quyền đòi hỏi các tổ chức tôn giáo phải đăng ký với nhà nước để có thể hoạt động hợp pháp. Nhiều nhóm tín ngưỡng bản địa và Tin lành ở Tây Nguyên không được chính quyền công nhận, và do đó bị coi là bất hợp pháp. Điều này dẫn đến việc các tín đồ bị hạn chế thực hành đức tin, bị bắt bớ, và nhà thờ bị phá hủy.

Có những cáo buộc về việc chính quyền cưỡng ép người Thượng cải đạo sang các tôn giáo chính thống hơn, như đạo Công giáo hoặc Phật giáo, để dễ kiểm soát hơn. Một số người cho biết đã bị buộc phải từ bỏ niềm tin của mình dưới áp lực từ chính quyền địa phương.

Vietnam Fraternité

Người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên tổ chức nghi lễ cúng mừng năm mới.

Các báo cáo từ các tổ chức nhân quyền quốc tế như Human Rights Watch cho thấy những trường hợp người sắc tộc Tây Nguyên bị bắt giam, tra tấn, và đàn áp vì lý do tôn giáo. Có những cuộc biểu tình của người dân Tây Nguyên nhằm phản đối sự kiểm soát của chính quyền về tôn giáo và đất đai, dẫn đến việc lực lượng an ninh đã đàn áp mạnh tay.

Chính quyền thường sử dụng các biện pháp hành chính và pháp lý để hạn chế quyền tự do tôn giáo của người sắc tộc thiểu số, từ chối cấp phép cho các hoạt động tôn giáo và cản trở những người lãnh đạo tôn giáo không được nhà nước công nhận.

Chính quyền cũng dễ dàng giả mạo chứng cứ, cáo buộc một số nhóm tôn giáo phạm tội. Muc sư đứng đầu Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên, ông Aga, bị Công an tỉnh DakLak kết tội phản động, có mục tiêu chống phá Nhà nước và "đòi thành lập nhà nước riêng, tôn giáo riêng cho người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Hai lãnh đạo của hội thánh này là ông Y Krec Byă, Y Coi Bkrong và các tín đồ cũng đã bị bắt. Mục sư Aga may mắn trốn thoát, và đang là thường trú nhân tại Hoa Kỳ, nhưng ông vẫn bị Công an tỉnh Đắk Lắk ra quyết định khởi tố.

Luật sư Sean Nelson của ADF International – tổ chức luật sư nhân quyền Thiên Chúa giáo, có trụ sở tại thủ đô Vienna, Áo, hỗ trợ pháp lí cho tự do tôn giáo toàn cầu cho hay "Một trong những người Thượng bị đàn áp là cậu học sinh 19 tuổi Nie, chính quyền đã liên tục gởi giấy triệu tập nhằm đe dọa, thậm chí kiểm soát gia đình cậu. Nie bị mời lên đồn công an 6 lần trong vòng 4 ngày. Hiện Nie đang bị căng thẳng quá mức. Những việc đàn áp này không chỉ dừng ở người Thượng hoặc Mông, mà còn có các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài".

Tình hình đàn áp tôn giáo tại Tây Nguyên vẫn tiếp tục được các tổ chức nhân quyền theo dõi và lên án. Chính quyền Việt Nam thường bác bỏ những cáo buộc này, cho rằng họ chỉ duy trì trật tự xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia.

Quang Nguyên

(20/09/2024)

***************************

 

Bài 8

Đàn áp tiếp nối đàn áp

Quang Nguyên, 25/09/2024

Sau các cuộc biểu tình lớn ở Tây Nguyên vào các năm 2001 và 2004, chính quyền Việt Nam đã đưa ra các biện pháp đàn áp liên tục cộng đồng người Thượng dưới mọi hình thức

Vietnam Fraternité

Chính quyền Việt Nam thường xuyên bị các tổ chức nhân quyền chỉ trích vì kiểm soát tôn giáo chặt chẽ, đặc biệt đối với những người theo đạo Tin lành và Công giáo trong cộng đồng người Thượng

Sau các cuộc biểu tình lớn ở Tây Nguyên vào các năm 2001 và 2004, chính quyền Việt Nam đã có các biện pháp đàn áp cộng đồng người Thượng dưới mọi hình thức, lúc công khai dã man, lúc âm thầm nhỏ nhen, lúc tinh vi xảo quyệt. Đàn áp luôn xoay quanh vấn đề chính không thay đổi, tôn giáo, đất đai và nhân quyền.

1. Tôn giáo : Chính quyền Việt Nam thường xuyên bị các tổ chức nhân quyền chỉ trích vì kiểm soát tôn giáo chặt chẽ, đặc biệt đối với những người theo đạo Tin lành và Công giáo trong cộng đồng người Thượng. Các tổ chức như Human Rights Watch, Amnesty International đã báo cáo việc chính quyền đàn áp, giam giữ và ép buộc người Thượng từ bỏ tín ngưỡng, đặc biệt là tín đồ theo các hệ phái Tin lành không được chính phủ công nhận.

2. Đất đai : Xung đột đất đai là yếu tố quan trọng dẫn đến sự bất mãn trong cộng đồng người Thượng. Kể từ sau 2 cuộc biểu tình 2001, 2004, chính quyền đẩy mạnh đưa dân miền Bắc và miền Trung lên Tây Nguyên, với âm mưu pha loãng sắc tộc bản địa, chiếm thêm đất, phá thêm rừng làm gia tăng căng thẳng giữa người Thượng với chính phủ và những người di cư.

3. Đàn áp và phản ứng quốc tế : Các cuộc đàn áp người Thượng sau các cuộc biểu tình này đã bị quốc tế chú ý. Các tổ chức nhân quyền, và các tổ chức tôn giáo quốc tế đã nhiều lần lên tiếng phản đối những hành vi vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam đối với người Thượng. Báo cáo của các tổ chức này thường đề cập đến việc người Thượng bị bắt giữ tùy tiện, bị tra tấn, và bị từ chối quyền tị nạn khi họ cố gắng trốn sang Campuchia hoặc Thái Lan. Quốc tế đã lên tiếng qua các báo cáo của tổ chức BPSOS, GENOCIDE WATCH, Montagnard Advocacy Groups. Các Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và Nghị viện Châu Âu đã nhiều lần đưa vấn đề này vào nghị trình.

Thời kỳ đàn áp từ 2001 đến 2011

Sau các cuộc đàn áp năm 2001 và 2004, tình hình Tây Nguyên càng ngột ngạt. Các tín đồ Tin lành vẫn bị giám sát chặt chẽ. Việt Nam tiếp tục bắt giữ, sách nhiễu, và cấm hoạt động tôn giáo tập thể trong cộng đồng Tin lành người Thượng.

Nhiều tín đồ bị buộc phải từ bỏ niềm tin hoặc phải tham gia các hệ phái Tin lành quốc doanh. Những người không chịu bỏ đạo thường bị chính quyền đàn áp như gọi lên đồn công an làm việc, giam giữ, hoặc buộc phải bỏ nhà ra đi.

Trong 10 năm từ 2001 đến 2011 việc chính quyền Việt Nam đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập theo đạo Thiên chúa ở Tây Nguyên. Trong các cuộc đàn áp này, chính quyền đã xử dụng đến quân đội, các đơn vị công an tinh nhuệ truy lùng và bắt giữ các nhà hoạt động người Thượng đang ẩn náu và phong tỏa biên giới với Campuchia để bắt và ngăn chặn những người xin tị nạn chạy trốn.

Công an đã sử dụng vũ lực để giải tán các cuộc biểu tình phần lớn là ôn hòa, dẫn đến cái chết của tới tám người Thượng trong các cuộc biểu tình vào tháng 4 năm 2004 cũng như thương tích và tử vong của những người khác trong khi bị giam giữ. Vào nhiều thời điểm khác nhau, chính quyền hạn chế người dân đi lại, tụ tập và liên lạc điện thoại.

Cũng trong thời gian này, chính phủ đã khởi xướng một số cải cách gọi là ‘để giải quyết các khiếu nại của người Thượng, bao gồm các chương trình chính thức phân bổ đất cho các gia đình sắc tộc bản địa, cải thiện cơ hội giáo dục và mang lại sự phát triển kinh tế cho khu vực nghèo đói này’, nhưng các cải cách này lại càng gây ra những bất công mới do sự bất tài, thiên vị và hiểu biết hạn chế của các quan chức và người thừa hành.

Các trò mỵ dân của chính quyền khó lòng lừa được người dân đã hoàn toàn mất tin tưởng vào nhà nước. Công an đến tận các buôn làng để theo dõi hoạt động của những người tình nghi và ngăn chặn những người trốn sang Campuchia dưới chiêu trò thực hiện các dự án công trình công cộng, hỗ trợ dân làm rẫy và dọn dẹp làng mạc. Công an cho phát triển mạng lưới cảm tình viên, đoàn viên, an ninh chìm trong cộng đồng người Thượng hầu phá vỡ đoàn kết và gieo rắc nghi ngờ, lo lắng khắp nơi.

Tháng 2 năm 2001 : Chính quyền điều xe tăng và công an tinh nhuệ đến đàn áp các cuộc biểu tình lớn của người Thượng và bắt giữ hàng chục người tổ chức biểu tình. Sau đó, hạn chế nghiêm ngặt các cuộc tụ tập đông người, các buổi lễ của hội thánh và quyền tự do đi lại của người dân.

Tháng 3 năm 2001 : hàng trăm quân của lực lượng vũ trang bao vây buôn Plei Lao, tỉnh Gia Lai lúc đêm khuya để ngăn cản một buổi cầu nguyện. Lực lượng an ninh đã bắn vào đám đông, giết chết một người. Sau đó, họ đốt cháy nhà thờ.

Một người dân làng cho biết đầu tiên công ra lệnh cho người Việt mặc thường phục lục soát và đập phá nhà thờ bằng búa, rìu. rồi cho xe kéo đổ nhà thờ, rồi bắtngười Jarai đốt nhà thờ. 

Tháng 4 năm 2001 : Chính quyền cho bố trí 13 trung đoàn bộ binh tại các "khu vực phòng thủ kinh tế" ở Đắk Lắk và tỉnh Bình Phước giáp biên giới Campuchia. Kế hoạch này cho gần 100.000 bộ đội, dân quân và gia đình đến khu vực này sinh sống. 230.000 ha đất được khai hoang để trồng cao su, điều, cà phê và tiêu.

Tháng 5 năm 2001 : Chính quyền tổ chức "lễ ăn thề uống máu dê" tại hàng chục ngôi làng ở Tây Nguyên. Người đã tham gia cuộc biểu tình vào tháng 2 năm 2001 bị buộc phải đứng trước người dân trong buôn và chính quyền địa phương để nhận sai, chấm dứt mọi liên lạc với các nhóm bên ngoài và từ bỏ tôn giáo. Người dân bị buộc phải uống rượu gạo pha với máu dê để giữ lời thề

Một người dân vẫn còn hoảng loạn cho biết bị buộc uống máu dê nhưng lại không có thấy con dê nào. Họ cũng không biết máu đó lấy từ đâu ra, cũng không biết đó là máu gà hay máu chó. Nếu không uống, thì sẽ bị đánh, mà uống thì sợ bị bệnh sau này. 

Tháng 2 năm 2002 :  Thêm 2.300 quân được đưa tới các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Kon Tum, cán bộ đảng được cử đến các "điểm nóng" và vùng sâu vùng xa để giúp duy trì trật tự.

Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2002 : Công an thắt chặt an ninh và bắt giữ gần 70 người Thượng ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên nhằm đàn áp các cuộc biểu tình của người Thượng được cho là đã lên kế hoạch ở huyện Mdrak của Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột.

"Chúng tôi đã bắt giữ tất cả những người biểu tình. Không ai có thể trốn thoát", một chỉ huy công an ở Đắk Lắk nói với các phóng viên. 

Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2002 : Hơn 600 đội quân "phản ứng nhanh" được điều động đến vùng cao nguyên. Chính quyền tăng cường các chiến dịch tuyên truyền chống lại "các thế lực thù địch" ở vùng cao, đỉnh điểm là chỉ thị của Đảng vào tháng 10/2002 nêu rõ những việc muốn xóa bỏ "Tin Lành Dega". Phương tiện truyền thông nhà nước đưa tin về các buổi lễ được tổ chức chính thức, trong đó những người Thượng theo đạo Thiên chúa "tự nguyện" từ bỏ tôn giáo được phát sóng trên đài truyền hình tỉnh Đắk Lắk có tên "Giải tán Hội đồng Chấp sự Tin lành Tự bầu bất hợp pháp" hay "Những chấp sự Tin lành Tự bầu bất hợp pháp Tự nguyện giải tán".

Vào tháng 11, nhà nước cho hay hơn 2.700 tín đồ Thiên chúa giáo đã cắt đứt quan hệ với "những phần tử xấu lợi dụng các vấn đề tôn giáo để gieo rắc chia rẽ trong sự đoàn kết dân tộc", hàng chục người theo đạo Tin lành đã thú nhận đã rao giảng bất hợp pháp và 37 "chi bộ" tôn giáo đã bị giải tán.  

Tháng 2 năm 2003 : Chính quyền Tây Nguyên được chỉ thị "xóa bỏ mọi tổ chức tôn giáo bất hợp pháp" và tổ chức các buổi lễ "Tuyên thệ". Tại các buổi tuyên thệ, người Thượng phải công khai thề trung thành với chính phủ và đảng cũng như từ bỏ "Tin lành Dega".

Để thực thi các chỉ thị mới, công an đã cho bắt giữ một loạt những người Thượng theo đạo Thiên chúa và những người hoạt động.

Tháng 1 năm 2004 : Chính quyền tăng cường đàn áp người Thượng, với Cảnh sát cơ động, có khi cả cảnh khuyển để bắt giữ người bị tình nghi ủng hộ phong trào nhà thờ Dega. Sau khi phong tỏa cả một buôn, lực lượng an ninh lục soát nhà của những người dân bị tình nghi ẩn náu hoặc cho người khác ăn. Công an cho phá nhà cửa và đánh đập người dân trong khi thẩm vấn. Sau đó, cho truy lùng những người còn đang ẩn náu trong rừng quanh đó.

Tháng 7 năm 2004 : Cuộc biều tình vào tháng 4 năm 2024 bị chính phủ đàn áp rất thảm khốc.

Cục An ninh Tây Nguyên được thành lập sau một hội nghị toàn quốc về an ninh ở vùng cao nguyên do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì. Các đơn vị công an tinh nhuệ, như PA43, các đơn vị thuộc Đội an ninh chính trị VI, Cảnh sát cơ động và "Lực lượng đặc nhiệm" được điều động đến khu vực này để hỗ trợ công an tỉnh và huyện. Công an ngăn chặn các cuộc biểu tình tiếp theo, cho truy quét các nhà hoạt động người Thượng ẩn náu, ngăn chặn dòng người xin tị nạn vào Campuchia và chấm dứt các nhóm bị cáo buộc lợi dụng các vấn đề dân tộc và tôn giáo để kích động bất ổn xã hội.

Vietnam Fraternité

Một số người tị nạn thuộc các sắc tộc thiểu số trốn trong rừng Rattanakiri đã ra gặp cơ quan trợ giúp người tị nạn của LHQ ở Campuchia ngày 20/12/2014 (RFA files) (RFA)

Cuối năm 2004 - đầu năm 2005 : Cảnh sát tập trung bắt giữ "lính FULRO phản động" ở các huyện Đăk Đoa và Chư Sê tỉnh Gia Lai. Truyền thông nhà nước đưa tin 147 người đã bị bắt vào cuối năm 2004, trong đó có "kẻ cầm đầu" chủ chốt Kpa Hung bị trúng đạn và sau đó bị tuyên án tù 12 năm.

Tháng 3 năm 2005 : Chính quyền đẩy mạnh đàn áp, bắt giam những người Thượng theo đạo Thiên Chúa, bắt buộc người Thượng bỏ đạo sau khi ban hành luật yêu cầu tất cả các nhóm tôn giáo phải đăng ký chính thức.

Nghị định 22, ban hành vào tháng 3 năm 2005, cấm mọi hoạt động tôn giáo bị coi là đe dọa đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc đoàn kết dân tộc. Chỉ thị số 1, do Thủ tướng ban hành vào tháng 2 năm 2005, đặc biệt cấm Tin lành Dega.

Các quy định mới cho phép các cơ quan chức năng và công an bắt giữ hoặc buộc người Thượng phải từ bỏ đức tin nếu là tín đồ của các nhóm tôn giáo hoạt động độc lập, không chịu gia nhập Giáo hội Tin lành miền Nam Việt Nam.

Tháng 11 năm 2005 : Công bố kế hoạch đưa 2.000 gia đình từ miền Bắc Việt Nam đến sống và làm việc tại các "Khu kinh tế – quốc phòng" ở các tỉnh Kon Tum và Gia Lai gần biên giới Campuchia.

Thủ tướng Chính phủ cũng phê duyệt kế hoạch đưa 400 "trí thức trẻ" và đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản đến các Khu kinh tế – quốc phòng này trong nhiệm kỳ hai năm để "tăng cường phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng" trong khu vực.

Từ tháng 4 năm 2006 đến tháng 7 năm 2009 : Lực lượng PA43 và công an tỉnh phát động "chiến dịch 1.200 ngày" tập trung vào việc bắt giữ "bọn FULRO phản động" và "Tin lành Dega" ở huyện Chư Sê, Gia Lai.

Giữa năm 2006 : Chính phủ bắt đầu triển khai kế hoạch 01 CA-QS đưa công an tỉnh, huyện và quân đội vào ba huyện biên giới Gia Lai và các đồn điền cao su nằm trong đó để đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc gia và quốc phòng.

Mục tiêu của kế hoạch 01 CA-QS là : a) đảm bảo an ninh quốc gia và quốc phòng (cả an ninh chính trị và an ninh đồn điền cao su) ; b) xóa bỏ FULRO và ngăn chặn tình trạng trốn sang Campuchia ; c) vận động quần chúng giao nộp những kẻ phản động ; và d) ngăn chặn tội phạm, đặc biệt là buôn lậu cao su bất hợp pháp.

Tháng 8 năm 2006 : Lực lượng đặc nhiệm thuộc Tiểu đoàn E20 Cảnh sát cơ động Tây Nguyên, phối hợp với các đơn vị PA43 và cảnh sát huyện và tỉnh truy lùng và trấn áp những "kẻ cầm đầu" FULRO tại Gia Lai.

Tháng 1 năm 2007 : Người Thượng bị đàn áp, cướp mất đất phải bỏ chạy đến các vùng tiếp cận biên giới Campuchia-Lào-Việt vẫn bị chính phủ áp sát, kiểm soát gắt gao.

Nhà nước công bố kế hoạch xây dựng các buôn làng mới ở các khu vực biên giới và khu vực có thu nhập thấp trong bốn tỉnh Tây Nguyên, dành cho những người trẻ tuổi đến từ các vùng khác để "duy trì vai trò tiên phong của thanh niên trong phát triển kinh tế xã hội".

Từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 6 năm 2010 : Nhằm thanh toán sạch những nhóm tôn giáo độc lập, lực lượng an ninh phát động chiến dịch tấn công các nhà hoạt động của những giáo hội Tin Lành người Thượng ở huyện Chư Sê, Gia Lai trong ba năm.

Tháng 5 năm 2010 : Các quan chức, truyền thông địa phương và trung ương phát động các chiến dịch tuyên truyền và chỉ trích công khai giáo phái Công giáo Hà Mòn ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk.

Tháng 6 năm 2010 : An ninh biên giới được tăng cường, các vụ bắt giữ và các buổi lễ thề từ bỏ tôn giáo phản động bắt buộc diễn ra ở Gia Lai, được cho là để ứng phó với tình trạng bất ổn ở các rẫy cao su tại huyện Chư Prông.

Quang Nguyên

(25/09/2024)

Tham khảo :

(*) https://www.amnesty.org/en/documents/ASA41/005/2004/en/

https://www.hrw.org/reports/2006/vietnam0606/1.htm

https://unpo.org/?s=vietnam+highland

https://unpo.org/unpo-and-montagnards-community-report-land-confiscation-and-injustice-against-kho-indigenous-people-in-kren-hamlet-lam-dong-province-vietnam/

https://www.hrw.org/news/2002/04/23/vietnams-repression-montagnards

https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Cong-dong-tin-lanh-tai-Viet-Nam-voi-viec-thuc-thi-chinh-sach-phap-luat-ve-binh-dang-ton-giao-208

Mục sư Thái Phước Trường, "Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 100 năm hình thành và phát triển", 2011, Lưu hành nội bộ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 102.

************************

 

Bài 9 

Xóa bỏ Tin Lành Dega

Quang Nguyên, 28/09/2024

Chỉ thị số 1 yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải cam kết không cho phép tín đồ tổ chức hoặc tham gia biểu tình, bạo loạn và các tổ chức "phản động" như Tin lành Dega hoặc FULRO.

Vietnam Fraternité

Những người theo đạo Tin Lành thuộc cộng đồng dân tộc Êđê ở Tây Nguyên kỷ niệm "Ngày Quốc tế tưởng niệm các nạn nhân của bạo lực vì tôn giáo hoặc tín ngưỡng". (Facebook : Người Thượng vì Công lý)

Các tổ chức tôn giáo bị buộc chặt chân tay khi phải gia nhập các tổ chức tôn giáo công cụ của chính quyền và phải xin phép hoạt động. Chính phủ tuyên bố thẳng thừng rằng tự do tôn giáo là một đặc quyền do chính phủ cho và cấp phép, chứ không phải là quyền cơ bản của con người (*).

Đài Tiếng Nói Việt Nam lên tiếng, "Khi cái gọi là tôn giáo trở thành công cụ trong tay những kẻ xấu, nó phải bị coi là xấu xa và bất hợp pháp và phải bị loại bỏ".

Luật ban hành năm 2005, Chỉ thị số 1, nêu rõ các yêu cầu cụ thể đối với các nhóm Tin Lành. Để ‘đăng ký’, nghĩa là để xin được phép hoạt động, họ phải nộp đơn cho chính quyền địa phương, cung cấp tên, ảnh và lý lịch của những người theo đạo. 

Các tổ chức tôn giáo phải cam kết không cho phép tín đồ tổ chức hoặc tham gia biểu tình, bạo loạn và các tổ chức "phản động" như Tin lành Dega hoặc FULRO. Chỉ thị số 1 củng cố lập trường chính thức lâu nay của chính phủ rằng Tin Lành Dega không phải là một tôn giáo hợp pháp. Do đó chính quyền có cơ sở pháp lý để buộc những người Thượng theo đạo Thiên Chúa phải tham gia Hội Thánh Tin Lành Miền Nam Việt Nam nếu không sẽ phải đối mặt với các hình phạt hình sự.

Các tiêu chí đăng ký vô cùng hạn chế đã vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia. Các nhóm tôn giáo không đáp ứng các tiêu chí theo yêu cầu có thể bị từ chối cấp phép hoạt động. Trên thực tế, các nhóm không được cấp phép trở thành tổ chức bất hợp pháp và dễ bị chính quyền gây sức ép, đàn áp. 

Các cuộc đàn áp và hạn chế của chính phủ đối với những người Thượng Tin lành Dega đã tác động đến nhiều tín đồ Cơ đốc người Thượng cho dù là có theo đạo Tin Lành Dega hay không.

Chính quyền Việt Nam ép buộc người Thượng công khai bỏ đạo dù trong Nghị định 22 có quy định cấm việc cưỡng bức từ bỏ đức tin. 

Trong suốt năm 2010 và đầu năm 2011, hàng trăm người Thượng ở Tây Nguyên đã bị ép buộc từ bỏ Tin Lành trong các buổi ’làm việc’ riêng với công an hoặc chính quyền địa phương và phải ký các bản cam kết theo ý công an. 

Các phương tiện truyền thông nhà nước thường xuyên đưa tin về các buổi lễ công khai bỏ đạo (*). Trong một buổi lễ ngày 24 tháng 9 năm 2010, tại huyện Ia Suom, Gia Lai, 24 người đã "tự nguyện" cam kết từ bỏ Tin lành Dega và FULRO để hòa nhập với cộng đồng, theo một bài trên tờ Quân đội Nhân dân. Quan chức Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ với bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các già làng, bô lão và gia đình của những người "bất trị" để thay đổi họ.

Dưới đây là một số vụ những người dân thường bị gây sức ép, cưỡng bức buộc phải công khai từ bỏ tôn giáo của họ, hoặc bị quấy rối và cáo buộc có các hoạt động chính trị tại các buổi lễ tố cáo công khai trong năm 2010.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Chư Prông nói vào tháng 9 năm 2010, "Sau một cuộc đấu tranh, những kẻ cầm đầu phản động đã cúi đầu, thú nhận tội ác và tự nộp mình để xem xét trước nhân dân trong làng".

Vào ngày 6 tháng 6 năm 2010, trong một buổi lễ phát động "phong trào quần chúng bảo vệ an ninh quốc gia" tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, ông Y Brim và Y K Rum bị buộc công khai thú nhận đã ủng hộ Tin lành Dega và FULRO.

Ngày 12/07/2010, phương tiện truyền thông nhà nước đưa tin 97 hộ gia đình, gồm 297 người, đã "tự nguyện" từ bỏ Tin lành Dega tại các làng Tok và Roh, huyện Chư Sê, Gia Lai.

50 người ở bốn buôn ở huyện Đức Cơ, Gia Lai đã bị triệu tập, bị kiểm điểm công khai vì tội "phá hoại an ninh trật tự" vào ngày 25 tháng 8 năm 2010. Sau khi buộc phải thừa nhận hành vi sai trái, 50 người dân này đã cam kết từ bỏ FULRO và Tin lành Dega.

Vào tháng 10 năm 2010, báo chí nhà nước đưa tin 567 hộ gia đình có liên quan đến Tin Lành Dega đã cam kết "từ bỏ" tôn giáo ở huyện Krong Pa, Gia Lai. Chủ tịch xã hàng ngày đến "thăm hỏi" gây áp lực với 15 hộ gia đình còn lại phải cam kết bỏ đạo.

Vào tháng 11 năm 2010, "Cuộc đấu tranh xóa bỏ Tin lành Dega" diễn ra ở các huyện Ia Grai và Đức Cơ ở Gia Lai. Bộ đội biên phòng đập tan "các băng nhóm phản động" Tin lành Dega ở các khu vực biên giới và đưa ra kiểm điểm công khai".

2010 : Bất ổn nông trường cao su

Vụ đụng độ giữa người dân Chư Prong với công an, bảo vệ và công nhân công ty Cao Su Chư Prong kéo dài hơn 2 tháng từ 10/6 đến 26/8 với hàng trăm người liên quan. Người Thượng đụng độ với bảo vệ nông trường cao su ở huyện Chư Prông, Gia Lai (chi tiết, xem Phụ lục). 

Vì vậy chính quyền tăng cường tấn công vào Tin Lành Dega. Chính quyền quy kết Tin Lành Dega cùng với những người Thượng ở nước ngoài đã kích động tình hình bất ổn. Chính quyền đã tăng cường sự hiện diện của an ninh tại ba huyện biên giới Đức Cơ, Ia Grai và Chư Prông, và mở rộng truy tìm các lãnh đạo Tin lành Dega ‘ngoan cố.’

Phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc

Đầu năm 2010, chiến dịch loại bỏ "phản động" và đảm bảo an ninh trật tự ở Tây Nguyên đã gần đến ngày hoàn thành mục tiêu sau 3 năm. Vào tháng 4, phó giám đốc công an tỉnh Đắk Lắk đã báo cáo về thành công của chiến dịch trong việc đấu tranh chống lại các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp và các nhóm "lợi dụng tôn giáo" để chống lại cách mạng. Ông cho biết công an đã đấu tranh ngăn chặn ‘Tin lành Dega’ phát triển trở lại". 

Báo Gia Lai cho biết Chiến dịch đã vạch trần hàng ngàn đối tượng, trong đó có những đối tượng cung cấp căn cứ ngầm cho FULRO, thuyết phục 284 đối tượng ra đầu thú, và phá hủy 14 tổ chức giúp người dân chạy sang Campuchia. Tiếp nhận 229 người hồi hương [từ Campuchia], và xóa sổ gần 90 mạng lưới ngầm của những kẻ phản động FULRO và Tin lành Dega. Bắt giữ 45 người, trong đó có những người đã được thuyết phục đầu hàng. Xóa sổ 5 nhóm FULRO đang ẩn náu cũng như truy đuổi và bắt giữ những thủ lĩnh FULRO đã trốn vào rừng để tiếp tục gây rối. Tịch thu 106 điện thoại di động, thẻ SIM và một số tài liệu phản động.

Vào tháng 8, phương tiện truyền thông nhà nước đưa tin về một chiến dịch loại bỏ những người Tin lành Dega của công an ở huyện Krong Pa, Gia Lai. 

"Chỉ trong một thời gian ngắn, Công an huyện Krong Pa đã kịp thời phát hiện ra tội phạm và triệt phá chúng ; buộc tội phạm phải thú nhận đã âm mưu và sử dụng thủ đoạn để lợi dụng đạo Tin lành để hoạt động cho FULRO chống lại chính quyền. Chính quyền đã can thiệp kịp thời, ngăn chặn các âm mưu kích động biểu tình và bạo loạn trong huyện". 

Ngày 25/8/2010, công an đã bắt giữ bốn người Tin lành Dega hàng đầu ở Chư Prông : Ro Mah Hit, Kpuih Do, Kpa Thom và Ro Lah K’lanh vì tội kích động "cướp bóc và gây rối dân sự". Theo Báo Gia Lai, công an đã phát hiện danh sách người tham gia hội họp hoặc quyên tiền cùng một số giấy tờ liên quan đến những người đang bị giam giữ cùng các đĩa VCD tuyên truyền về cái gọi "Tin lành Dega" và "Nhà nước Dega". 

Chính quyền huyện Chư Prông đã huy động lực lượng dân phòng tại bảy xã và địa phương để giải quyết tình trạng Tin Lành Dega tái phát trong huyện và bắt giữ các "mục tiêu" chủ chốt. Báo Gia Lai dẫn lời ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết : "Một số đối tượng lén lút hoạt động chống phá Nhà nước, trộm mủ cao su, cướp tài sản của nhân dân".

Ngày hôm sau, 26/8, một vụ "gây rối" khác đã xảy ra tại Chư Prông, theo báo Gia Lai sau khi bảo vệ của công ty cao su bắt giữ một người "trộm" mủ cao su. Sau đó hơn 70 người Thượng từ 2 buôn đã đến công ty gây bạo loạn.

Lực lượng an ninh đã bắt giữ và giam giữ người dân ở Chư Prông vào tháng 8 và tháng 9 đồng thời phong tỏa một số huyện khác ở Gia Lai. 

Trong khi đó, chính quyền bắt đầu tăng cường các phiên tố cáo công khai tập trung vào những người theo đạo Tin Lành Dega bị cáo buộc có liên quan đến tình trạng bất ổn ở Chư Prông và các huyện biên giới giáp ranh là Đức Cơ và Ia Grai. 

Vào ngày 18/9, chính quyền tỉnh đã thông báo rằng Tin Lành Dega và FULRO đang "tích cực phục hồi" ở ba huyện Ia Gra, Chư Prông và Đức Cơ và lan rộng

Từ năm 2001, ít nhất 25 người Thượng đã chết trong tù, hoặc trại tạm giam của công an vì bị đánh đập hoặc bị bệnh trong thời gian ở tù, hoặc ngay sau khi được thả cho đi bệnh viện hoặc về nhà. 

Chính quyền đã bắt giữ Y Ben Hdok tại tỉnh Đắk Lắk vào cuối tháng 4 năm 2008 liên quan đến việc các cuộc biểu tình vào đầu tháng 4 tại Đắk Lắk và việc một số người trong buôn trốn sang Campuchia. Công an đã giam ông tại Buôn Ma Thuột, ba ngày mà không thông báo cho gia đình ông biết tin.

Ngày 1/5/2008, công an thông báo cho vợ của Hdok rằng ông đã tự tử trong giờ nghỉ thẩm vấn và yêu cầu gia đình nhận thi thể tại bệnh viện. Người nhà của ông Hdok cho biết ông bị vỡ đầu, gãy xương sườn, chân và gãy cả răng.

Chính quyền đàn áp người Thượng rất dã man trên mọi mặt, từ tôn giáo đến đất đai và chính trị không dứt.

Ngày 20/9/2024 Cổng thông tin điện tử công an Quảng Bình còn đưa tin đã xóa bỏ được "Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyện" tại tỉnh ủy Phú Yên. Tỉnh đã thành lập tổ công tác gồm 14 cán bộ lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền, vận động đấu tranh xóa bỏ giáo phái này. Huyện ủy, UBND huyện Sông Hinh ban hành và triển khai kế hoạch "Đấu tranh, ngăn chặn hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của các đối tượng FULRO, "Tin Lành Đêga", và Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyện".

Báo cáo về tình hình tự do tôn giáo năm 2024 của USCIRF yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ liệt Việt Nam vào danh sách "quốc gia đặc biệt đáng quan ngại" hoặc các quốc gia đặc biệt quan tâm vì đã vi phạm tự do tôn giáo có hệ thống, liên tục và nghiêm trọng, theo định nghĩa của Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) (***).

Quang Nguyên

(28/09/2024)

Tham khảo :

(*) https://www.hrw.org/reports/vietnam0311vi_annex_0.pdf

(**) https://congan.quangbinh.gov.vn/xoa-bo-tin-lanh-dang-christ-tay-nguyen-o-song-hinh-ky-1/

(***) https://www.uscirf.gov/sites/default/files/2024-05/USCIRF%202024%20Annual%20Report.pdf

https://www.hrw.org/news/2002/04/23/vietnams-repression-montagnards

https://www.hrw.org/news/2011/03/30/vietnam-montagnards-harshly-persecuted https://www.americamagazine.org/issue/773/signs/montagnard-christians-targeted-political-security-units

***************************************

Bài 10 : Số phận của cộng đoàn Công giáo trên Tây Nguyên

Liêm Lý & Quang Nguyên, 03/10/2024

Nhiều người Thượng Công giáo đã phải đối mặt với các cuộc đàn áp về các quyền tự do tôn giáo và cũng chịu chung số phận với người Thượng theo đạo Tin Lành. 

Giới hoạt động: Mỹ cần mạnh tay chế tài quan chức Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo

Giới hoạt động: Mỹ cần mạnh tay chế tài quan chức Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo

Chính quyền Việt Nam đã áp dụng những chính sách tàn bạo để xóa bỏ lịch sử, văn hóa, tôn giáo và buôn làng người bản địa Tây Nguyên thế nào, thì với giáo hội công giáo và những người Thượng theo các tôn giáo khác cũng bị đàn áp như vậy. Với giáo hội công giáo tại đây, chính quyền cho đánh đập, giam giữ và giết nhiều vị lãnh đạo tu sĩ công giáo. 

Ngày 28/3/2024 là ngày giỗ thứ 49 của cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế – tác giả bản dịch trọn bộ Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. 

Hôm đó là thứ Sáu Tuần Thánh (28/3/1975), Ngài từ Đà Lạt xuống Di Linh theo lời mời của cha Phùng Thanh Quang, cha sở Di Linh, giúp Tam Nhật Thánh. Trên đường xuống Di Linh, ngài bị việt cộng bắt, đập bằng búa và bắn vào đầu, vùi xác tại đồn điền Nguyễn Ngọc, xã Châu Thành, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. 

Xác ngài được một Hạ sĩ quan Truyền tin của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chôn tạm ngay tại đó và nhiều năm sau được đưa về an táng tại nghĩa trang trên đồi thông của Dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. 

Nhưng theo một nguồn tin khả tín nhận được khi đang viết bài này, ngay ngày chiếm được Đà Lạt (20/4/1975), quân "giải phóng" đã ra lệnh giết cha Phùng Thanh Quang, cha sở Di Linh. Không may, họ đã nhận lầm cha Nguyễn Thế Thuấn là cha Phùng Quang Thanh. Người Hạ sĩ quan chôn cha Thuấn hiện định cư Mỹ.

Mặc dù người Thượng Công giáo không tham gia hai cuộc biểu tình của đồng bào Tin Lành năm 2001 và 2004, nhưng cũng dự phần vào các cuộc đấu tranh rộng lớn hơn của cộng đồng người Thượng. Nhiều người Thượng Công giáo đã phải đối mặt với các cuộc đàn áp về các quyền tự do tôn giáo và cũng chịu chung số phận với người Thượng theo đạo Tin Lành. 

Hành hung linh mục

Sáng Chúa Nhật, ngày lễ Phục Sinh 8/4/2012, Đức Giám Mục giáo phận Kon-Tum Micae Hoàng Đức Oanh, Đức Cha Phê-rô Trần Thanh Chung, và một số linh mục bị công an chận đường, không cho đi đến giáo họ Turia Yôp, xã Đăk Hring để làm mục vụ. Cha Calisto Bá Năng Lý, chánh xứ Kon Hring đi trong đoàn này cũng bị ngăn cấm vào họ đạo của mình. 

Trong thư gửi các lãnh đạo cao cấp nhất của nhà nước Việt Nam, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Đức Giám Mục Hoàng Đức Oanh viết 

Tự do tôn giáo không phải là một ân ban, mà là một quyền căn bản thánh thiêng !", "Kể cả suốt mấy chục năm nay (1972-2012) Huyện Đăk Hà, đối với người công giáo, vẫn được mệnh danh một "Huyện[bị chính quyền] ghét đạo nhất" Tỉnh. Chuyện "hành hạ người có đạo" tinh vi.., "Như "con giun bị dày xéo" nó cũng quằn quại để thoát chết ! Người có đạo chúng tôi, một khi bị dồn ép quá, bị dồn ép gần 40 năm rồi, cũng muốn được thở, được "sống cho ra sống" ! "Có ai lại đi chụp cho con giun "cái mũ chống đối người giẫm lên nó" đâu ! Đừng ai chụp cho cái mũ phản động hay chống đối người thi hành công vụ, cũng đừng ai vu cho cái tội âm mưu lật đổ Chính Quyền hoặc diễn tiến hòa bình này nọ ! Oan lắm"(1)

Trong thư, ngài đã nhắc lại chuyện linh mục Nguyễn Quang Hoa, cha phó Giáo xứ Kon Hring, thuộc Giáo hạt Đăk Mót, phía bắc Tỉnh Kon Tum bị 3 tên côn đồ hành hung.

11 giờ, thứ Năm, ngày 23.02.2012, Sau khi đi dâng lễ an táng cho một cụ già người sắc tộc ở làng Kon Hnong, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum về. LM Nguyễn Quang Hoa bị 3 tên côn đồ người Kinh, tóc xanh tóc vàng đuổi theo đánh Cha ngã xuống xe, Cha vội chạy vào rừng cao su, cũng bị bọn chúng rượt đuổi theo đánh, bị thương ở đầu và cả người, rất may, không nặng lắm. Sau đó bọn chúng ra đập phá hỏng xe máy của Cha Hoa ở đường và bỏ đi. 

Sự trả thù, đánh đập, bức hiếp, đánh đập người có đạo công giáo Tây Nguyên, đặc biệt các vị lãnh đạo người công giáo, thuộc giáo phận Kon-Tum, không chỉ có từ sau 1975 mà bắt đầu ngay từ năm 1965 khi tình hình an ninh bất ổn tại một phần Kon-Tum. 

Cha xứ Léon Dujon giáo xứ Kon Kơla bị việt cộng bắt từ ngày 23 đến 24 tháng 2 năm 1965, thả lỏng ngày 25 và bị bắt trở lại vào ngày 28, trước khỉ được thả vào ngày 02 tháng 08 năm 1965.

Năm 1972, miền Bắc Kon-Tum, vùng Đăk Tô rơi vào tay việt cộng. Cha sở Dujon giáo xứ Đăk Kơla và Cha Marcel Arnould xứ Kon Hơnong bị bắt dẫn vào rừng, phía đông về phía núi Ngọc Linh, bên Kon Pia và Kon Kơla. Các Linh Mục Carat và cha Brice bị bắt dẫn vào cùng một phía rừng, nhưng tách rời cho đến tháng 7 năm 1972. Sau đó các linh mục này trốn thoát.

Sau năm 1975, dân làng Đăk Jâk, Đăk Tuk cùng các làng khác dần quay trở về quê cũ sinh sống, một số cư dân phải định cư nơi khác, xa làng cũ, trong đó có một số làng công giáo vùng Đăk Sut và Đăk Kơla và tái lập Giáo xứ với tên gọi Đăk Jâk. 

Cha sở Léon Dujon, cùng 7 linh mục thừa sai khác bị qui tụ về Tòa Giám mục Kontum, và ngày 12/08/1975 tất cả bị trục xuất về nước. 

Từ 1975 đến 2004 : không có linh mục hiện diện tại Địa sở ĐĂK KƠLA.

Các chú Yao Phu như Luy Nhah, G. Leonardi Glép, Simon Nhum, Liêm bị bắt tù tại trại giam T15 Plei Bông. Riêng chú Luy Nhah phải trải qua 2 nhà tù T20 và T15. Còn chú Giacôbê Bỉng và chú Luy Dum bị bắt cải tạo tại huyện Đăk Glei nhiều lần. Các chú Phô, Bôn, Binh, Tháo làng Đăk Nai và Chú Cosma Thim làng Đăk Jâk bị bắt cải tạo tư tưởng tại huyện Đăk Glei mỗi năm 2 lần.
Từ năm 2004-2011 : 2 Giáo xứ này không có Linh mục hiện diện.

Ngày 11.11.2011, Đức Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục giáo phận Kontum đã bổ nhiệm Cha Đaminh Trần Văn Vũ làm chính xứ Đăk Jâk với 13 làng và 1 giáo họ, số tín hữu 4.700 người dù chính quyền không công nhận.

Phá nhà thờ Giáo xứ Dak Jak

Giáo xứ Đăk Jâk có 5059 giáo dân. Trong đó có 4819 giáo dân thuộc 3 sắc tộc Xê-đăng, Hơlăng và Jeh cùng 240 giáo dân người Kinh.Mặc dù số giáo dân khá đông và Tòa Giám mục Kontum nhiều lần đệ đơn để khôi phục Giáo xứ, nhưng Nhà nước vẫn chưa công nhận. Nhà nước không cho linh mục cư trú, giáo dân phải dầm mưa dãi nắng dâng lễ.

Nhiều lần trình bày với chính quyền không được thỏa mãn nguyện vọng, tháng 4/2013, cả xứ đồng lòng dựng một "nhà thờ tạm" bằng cột tròn, lợp tôn, không thưng vách, thô sơ, với diện tích 1000 mét vuông để che nắng che mưa. Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh vào ngày 23/6/2013 đã làm lễ dâng hiến nhà thờ này lên Thiên Chúa.
Căng thẳng giữa Giáo xứ và Chính quyền, đã âm ỉ từ lâu, nay bắt đầu có lý do bùng phát. Chính quyền ngay sau đó, tháng 5/2013, đã ký quyết định tháo dỡ nhà thờ này.
Đối với Nhà nước đây là ngôi nhà thờ bất hợp pháp. Nhưng đối với giáo dân, đây là nơi gặp gỡ Chúa, là nơi sinh hoạt tôn giáo. Căng thẳng giữa Chính quyền và Giáo xứ ngày một tăng, khi một bên quyết dỡ và một bên quyết giữ.

Tòa Giám mục Kontum và giáo dân đã nhiều lần làm việc với Chính quyền huyện Đăk Glei và tỉnh Kontum để tìm ra một giải pháp tốt nhất cho vấn đề Nhà thờ Đăk Jâk.
Và cuối cùng giải pháp đã được tìm ra giữa Tòa Giám Mục Kontum và Chính quyền Huyện Đăk Glei cùng Sở Nội Vụ tỉnh Kontum vào ngày 22/8/2014. 

Trong giải pháp này, Tòa Giám mục đồng ý tháo dỡ ngay ngôi "nhà nguyện tạm" này khi có giấy của Huyện Đăk Glei cho phép dựng tạm một nhà khác 200 mét vuông trên đất của Giáo xứ đề nghị. Cả 2 bên đều thống nhất giải pháp này.

Mọi chuyện tưởng chừng xong, nhưng, thật đáng tiếc ! Chính quyền vẫn chỉ hứa mà không thực hiện.

Bức xúc của bà con giáo dân Đăk Jâk càng bùng phát mãnh liệt hơn khi Chính quyền huyện Đăk Glei không những không cho làm nhà thờ mà còn nhiều lần trục xuất Linh mục Quản xứ ra khỏi địa bàn.

Vào chiều ngày 07/01/2015, Giám mục Giáo phận Kontum họp với Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tỉnh để bàn về vấn đề Đăk Jâk. Cuộc đàm phán kéo dài trong sự căng thẳng. Đến 2g30’ chiều, quyết định ký từ ông Phạm Văn Long, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Tỉnh Kontum và bà Y Thị Bích Thọ, Chủ tịch UBND Huyện Đăk Glei là "từ ngày 07-17/01/2015 phải dỡ cho được ngôi nhà tạm nói trên và từ nay tới tháng 3 sẽ trục xuất cho được Linh mục Quản xứ ra khỏi giáo xứ và không cho bất kỳ Linh mục nào lên làm mục vụ tại huyện Đăk Glei này".

Đối phó với sự kiên trì, bình tình trong tinh thần bất bạo động dài ngày của giáo dân, chính quyền tỉnh, sở nội vụ, ban tôn giáo tỉnh phải lùi bước. Tòa Giám mục được cấp giấy phép xây dựng ngôi thánh đường giáo xứ Đăk Jâk sau 40 năm mong mỏi, chờ đợi của giáo dân và tòa Giám Mục Kon-Tum (2).

Bà Y Thị Bích Thọ, còn được cho là nhân vật chính trong một câu chuyện xảy ra sau đó làm xôn xao dư luận người công giáo trong và ngoài nước, đánh động lương tâm những cá nhân, tổ chức ủng hộ tự do tôn giáo.

Phá thánh lễ ở Kontum

Ngày 22/3/2023, một nhóm công an mặc sắc phục và lãnh đạo xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum, xông vào một điểm tạm đang diễn ra thánh lễ của giáo dân Công giáo và giât sách lễ, rút điện, lớn tiếng yêu cầu vị linh mục đang cử hành thánh lễ "về làm việc" với lý do "chưa có giấy phép" làm lễ.

Vietnam Fraternité

Vụ quấy rối thánh lễ diễn ra vào lúc 6g15 chiều 22/3 tại một giáo điểm ở xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, thuộc giáo xứ Đắc Giấc, giáo hạt Đắk Mót, giáo phận Kontum.

Theo các trang tin Công giáo, sự việc quấy rối thánh lễ diễn ra vào lúc 6g15 chiều 22/3 tại một giáo điểm ở xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, thuộc giáo xứ Đắc Giấc, giáo hạt Đắk Mót, giáo phận Kontum.

Người la lối cản trở buổi dâng lễ của cha Lê Tiên tự xưng "Tôi, Thạch, Phó chủ tịch xã nè, chịu trách nhiệm buổi làm việc hôm nay nè. Tôi tôn trọng mời ông xuống xã làm việc nè". Người đàn bà đến bàn thờ lấy cuốn kinh thành, mà linh mục đang đọc, ôm vào người và bỏ đi bị nhiều người nhận mặt là bà Y Thị Bích Thọ. 

Hạ sát cha Giuse Trần Ngọc Thanh

Sự kiện khủng khiếp hơn cũng tại giáo xứ Dăk Mốt, thị trấn Plei Kan, huyện Ngọc Hồi, Giáo phận Kontum. Cha Giuse Trần Ngọc Thanh, phó xứ nhà thờ Dăk Mốt, đang ngồi giải tội cho giáo dân dịp cuối năm thì bị sát hại. Ngài bị chém 2 phát rất nặng vào đầu và được cấp cứu ngay sau đó nhưng đã không qua khỏi. Ngài qua đời tại bệnh viện lúc 23g30′, ngày thứ Bảy 29/01/2021, khi vừa tròn 41 tuổi.

Cái chết đau đớn của Cha Thanh dấy lên nghi vấn về một bàn tay lông lá hành động hèn nhát và gây ra sự phẫn uất lớn trong lòng các xứ đạo Kom-Tum nói riêng và giáo dân công giáo thế giới nói chung. 

Tuy nhiên phía chính quyền nhanh chóng cho biết kẻ thủ ác là một người mắc bệnh tâm thần.

Thông báo kết luận giám định số 303/TB-CSHS ngày 05/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum, do ông Trung tá Đinh Quốc Tuấn, Phó thủ trưởng ấn ký, cho biết Cơ quan đã nhận được Kết luận giám định pháp y tâm thần lại theo trưng cầu số : 267/KLGĐ ngày 15/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương tại thành phố Hà Nội đối với : Giám định lại tình trạng sức khỏe tâm thần của bị can Trần Văn Kiên trong vụ án Giết người xảy ra ngày 29/01/2022 tại thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. 

Nội dung kết luận giám định như sau : "Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội [chém cha Thanh] và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Văn Kiên bị bệnh Rối loạn hoang tưởng. Hoang tưởng trực tiếp chi phối hành vi. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F22.0".

Đâm trọng thương linh mục Trần Quang Truyền

Một linh mục khác cũng thuộc giáo phận Kontum bị đâm trọng thương và thủ phạm vụ này cũng lại là một kẻ tâm thần.

Khoảng 11 giờ ngày 22/4/2020, Trần Trọng Ca (30 tuổi, thường trú phường An Phú, thị xã An Khê) điều khiển xe tải nhỏ BS 77C – 034.30 vào sân Nhà thờ giáo xứ An Khê (thuộc tổ 2, thường trú phường An Phú, thị xã An Khê). Ca mang theo 2 dao rựa, 1 con dao bầu cán dài, đi tới nhà để xe của nhà thờ chém vào 2 ô tô làm vỡ kính chắn gió.

Sau đó, Ca đi vòng ra phía sau nhà thờ, đến khu vực phòng ở, thấy linh mục Trần Quang Truyền (70 tuổi) và anh Nguyễn Văn Tùng (44 tuổi, thường trú phường An Phú, là người bán nước bình trong nhà thờ) liền lao vào đuổi chém. Linh mục Truyền và anh Tùng bỏ chạy được 50 m thì bị công an đuổi kịp. Ca dùng dao đâm vào bụng linh mục Truyền và anh Tùng làm cả hai người bị thương, ngã xuống đất.

Lúc này, ông Nguyễn Tấn Kiệt (73 tuổi, thường trú phường Tây Sơn, thị xã An Khê) chạy vào can ngăn cũng bị Ca dùng rựa chém trúng cùi chỏ tay, bị thương nhẹ rồi Ca lái xe đi.

Người trong nhà thờ phát hiện linh mục Truyền, anh Tùng và ông Kiệt bị thương liền chạy qua trụ sở Công an phường An Phú (nằm đối diện Nhà thờ giáo xứ An Khê) trình báo.

Khoảng 11 giờ 15, Trần Trọng Ca quay lại nhà thờ, mang theo khoảng 18 lít xăng vừa mua ở cây xăng gần đó và dùng hung khí đe dọa những người xung quanh. Trần Trọng Ca tưới xăng vào cửa chính nhà thờ, châm lửa đốt rồi điều khiển xe bỏ chạy trên QL 19, theo hướng Bình Định – Gia Lai. Công an phường, lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã kịp thời dập tắt đám cháy ở Nhà thờ giáo xứ An Khê.

Sau khi chạy ra khỏi Nhà thờ giáo xứ An Khê, Trần Trọng Ca lái xe đến Nhà thờ giáo xứ An Sơn (xã Tân An, huyện Đắk Pơ), tông cổng nhà thờ, chạy vào sân, lấy xăng mang theo châm lửa đốt nhà thờ rồi chạy về nhà.
Rất may, thời điểm này có một nhóm thợ hồ đang làm việc đã kịp thời dập lửa nên thiệt hại không đáng kể. Đến khoảng 11 giờ 45 cùng ngày, Trần Trọng Ca bị Công an An Khê bắt giữ tại nhà riêng. Tang vật thu giữ gồm 2 dao rựa, 1 dao bầu và xe bán tải mà nghi phạm dùng khi gây án

Về động cơ, mục đích gây án, cơ quan điều tra chưa làm rõ được vì từ khi gây án đến tối muộn ngày 22.4, Trần Trọng Ca chỉ nói cười, hát nên chưa thể khai thác được.
Toàn bộ vụ án Trần Trọng Ca phóng lửa đốt nhà thờ, đâm linh mục và 2 người khác đã được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Gia Lai thụ lý, điều tra làm rõ (3).

Chủ nghĩa cộng sản xem mọi tôn là kẻ thù không đội trời chung, tất cả hành động phá hoại tôn giáo từ ngày cướp được chính quyền cho đến nay đều minh chứng điều đó. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy, trong mấy năm gần đây, Việt Nam đã nới lỏng bàn tay và một số tổ chức tôn giáo có vẻ dễ thở hơn. Thực tế đã chuyển chiến lược đàn áp trực tiếp thô bạo qua tinh vi nhẹ nhàng, nhưng vô cũng nguy hiểm và đặc biệt qua các tổ chức tay sai như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy ban Đoàn kết Công giáo, Chi phái Cao Đài 1997…  và các ngụy tu sĩ để bôi bẩn và phá đạo.

Liêm Lý & Quang Nguyên

Nguồn : VNTB, 03/10/2024

Tham khảo :

(1) https://www.youtube.com/watch?v=tj0CLz6Nke0&t=131s

(2) https://www.youtube.com/watch?v=tj0CLz6Nke0&t=131s

(3) https://conggiao.vn/gia-lai-dot-nha-tho-dam-linh-muc-va-2-nguoi-khac-bi-thuong