Tiêu điểm
Phân tích
Tạp chí Xã hội
Trung Quốc đã vượt phương Tây trong lĩnh vực thuốc tân dược như thế nào ?
Vốn từ lâu chỉ được biết đến với khả năng sao chép đáng kinh ngạc, thì giờ Trung Quốc đã khẳng định vị thế là một trong những trung tâm nghiên cứu và sản xuất thuốc tân dược hàng đầu thế giới. Có thể nói, ngành dược phẩm của cả thế giới hiện đang phụ thuộc không nhỏ vào Trung Quốc trong lĩnh vực thử nghiệm lâm sàng, sản xuất các loại thuốc mới cũng như các hoạt chất được sử dụng trong các loại thuốc đó.
Một robot làm việc tại một hiệu thuốc mô phỏng trong chuyến tham quan báo chí tại Trung tâm Thương mại Robot ở Bắc Kinh vào ngày 06/08/2025. AFP – Adek Berry
Ngành thuốc tân dược của Trung Quốc đã phát triển đến mức nào ?
Năm 2024, Trung Quốc ghi nhận 7.100 thử nghiệm lâm sàng, so với 6.000 tại Hoa Kỳ, theo nền tảng quốc tế về thử nghiệm lâm sàng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Ung thư học, miễn dịch học, các bệnh hiếm gặp… trong chưa đầy mười năm, Trung Quốc đã gia nhập cùng Hoa Kỳ và Châu Âu vào nhóm các quốc gia phát triển nhiều phương pháp điều trị và các loại thuốc mới nhất. Về chữa trị ung thư, trong số 2.162 thử nghiệm lâm sàng về căn bệnh này được khởi động trên toàn thế giới, thì hơn 1/3 (39%) được tiến hành tại Trung Quốc. Nước này cũng đang tăng tốc trong lĩnh vực liệu pháp gene, và đã đạt được một kỳ tích gây chấn động thế giới vào cuối năm 2023 khi khôi phục thính lực cho trẻ em bị điếc, về đích trước các nhóm nghiên cứu phương Tây.
Xét về tốc độ phát triển các loại thuốc mới trong những năm gần đây, Trung Quốc cũng đang trên đà tăng. Theo tổng kết của báo Pháp Les Echos, Trung Quốc đã phát triển 7 loại thuốc mới vào năm 2020, 18 loại vào năm 2021, 25 vào năm 2023 và 28 vào năm 2024. Trong khi đó, lĩnh vực này tại Mỹ lại đang sụt giảm đều đặn, từ 39 loại thuốc mới vào năm 2020, xuống còn 35 vào năm 2021, rồi còn 28 vào năm 2023 và 25 vào năm 2024, chính thức xếp sau Trung Quốc. Còn Châu Âu thì vẫn dậm chân tại chỗ, với 18 loại thuốc mới vào năm 2020 và con số này không thay đổi vào 4 năm sau.
Không chỉ tung ra thị trường các loại thuốc mới, Trung Quốc còn cung cấp những hoạt chất chính để sản xuất các loại thuốc trên toàn thế giới. Các loại thuốc do Đức, Mỹ hay Ấn Độ sản xuất phần lớn chứa các thành phần có xuất xứ từ Trung Quốc. Hiện nay, ba phần tư (76%) tổng số hoạt chất nhập khẩu vào Đức để sản xuất kháng sinh có nguồn gốc từ Trung Quốc, theo một báo cáo của Hiệp hội Dược phẩm Đức Pro Generika.
Điều này không chỉ khiến các nước phụ thuộc vào Trung Quốc mà còn giúp Bắc Kinh có vị thế độc tôn trong việc sản xuất một vài loại thuốc. Có thể lấy ví dụ về Metformin, một loại thuốc điều trị bệnh tiểu đường, bởi một thành phần then chốt của loại thuốc này gần như chỉ được sản xuất tại Trung Quốc. Năm trong số sáu nhà sản xuất lớn nhất thế giới đều đặt trụ sở tại đây.
Thuốc tân dược của Trung Quốc có đáng tin hay không ?
Trước những số liệu này, không ít người vẫn tự hỏi liệu các loại thuốc và hoạt chất của Trung Quốc có đáng tin hay không. Đài FranceInfo đã phỏng vấn bác sĩ Yungan Tao, hiện làm việc tại Trung tâm Ung thư Gustave Roussy ở thành phố Villejuif, Pháp, người theo dõi rất sát những tiến bộ trong hoạt động nghiên cứu của Trung Quốc. Ông nhận định : "Có thể nói trình độ của Trung Quốc đã tương đương với Mỹ và tôi nghĩ là đã vượt Châu Âu rồi. Hơn nữa, ở đó, cơ quan chức năng Trung Quốc thúc đẩy rất mạnh đổi mới sáng tạo. Ở Trung Quốc, họ đã đạt được rất nhiều tiến bộ". Minh họa cho nhận định của mình, bác sĩ Yun Gan Tao đã lấy ví dụ về một loại thuốc mà Trung Quốc đã phát triển, có khả năng nhắm cực kỳ chính xác vào các khối u. Ông nói : "Đây là lần đầu tiên trên thế giới người ta thử nghiệm loại thuốc này, và nó rất hiệu quả. Với tất cả các bệnh nhân mà tôi đã điều trị cho đến nay, đều có hiệu quả. Mỗi tuần, chúng tôi đều thấy khối u thu nhỏ lại".
Điều gì đã mang lại thành công này cho Bắc Kinh ?
Đầu tiên cần nhắc tới chiến lược của chính quyền Trung Quốc. Từ giữa những năm 2010, chính quyền Trung Quốc đã xác định công nghiệp dược sinh học là một lĩnh vực chiến lược, huy động các khoản trợ cấp, tín dụng công và các quỹ đầu tư Nhà nước để hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng và công nghiệp hóa. Nhờ đó, mỗi thành phố lớn đều có cụm doanh nghiệp công nghệ sinh học (biotech) riêng, với nhiều cơ chế hỗ trợ khác nhau.
Tại cụm công nghệ Trung Quan Thôn (Zhongguancun) ở Bắc Kinh, mỗi dự án nghiên cứu đủ điều kiện đều có thể được nhận các khoản trợ cấp lên tới vài triệu euro, mà không cần Nhà nước tham gia vào vốn điều lệ. Thông qua các thỏa thuận, doanh nghiệp có thể tiếp cận các thiết bị của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc hoặc được hưởng mức giá đã đàm phán cho các động vật thí nghiệm biến đổi gen. Sau đó, chính quyền các thành phố sẽ đảm nhiệm việc tìm bệnh viện đại học công lập phù hợp để tiến hành thử nghiệm lâm sàng. Các doanh nghiệp được dán nhãn "công nghệ cao" được hưởng mức thuế lợi nhuận 15% (thay vì 25% đối với các doanh nghiệp thông thường), còn người lao động của họ có thể được hưởng các hỗ trợ về nhà ở.
Nhà nước Trung Quốc cũng đã cải cách sâu rộng khung pháp lý, bằng cách đẩy nhanh các thủ tục cấp phép lưu hành thuốc và công nhận các nghiên cứu lâm sàng được tiến hành trong nước thay vì ở nước ngoài, qua đó rút ngắn thời gian tiếp cận bệnh nhân tới vài năm.
Chính quyền cũng đóng vai trò then chốt trong việc phổ biến các phương pháp điều trị : việc một loại thuốc được đưa vào danh mục quốc gia các sản phẩm được hoàn trả chi phí sẽ bảo đảm cho phòng thí nghiệm sáng chế ra dược phẩm đó một thị trường khổng lồ… với điều kiện chấp nhận giảm giá đáng kể, từ 30% đến 70%. Không ít phòng thí nghiệm phương Tây đã không ngần ngại chuyển hoạt động sản xuất các loại thuốc đổi mới sang Trung Quốc để các sản phẩm của mình được ghi tên vào danh mục này.
Ngoài ra, dân số rất đông và mật độ cao của các bệnh viện công lập còn giúp đẩy nhanh việc thử nghiệm lâm sàng. Các thử nghiệm tại đây diễn ra nhanh hơn và ít tốn kém hơn. Các công ty công nghệ sinh học Trung Quốc còn được hưởng lợi từ một kho dữ liệu di truyền khổng lồ của 1,4 tỷ người — những dữ liệu được xem là một "tài nguyên quốc gia" và nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước kể từ luật An ninh Sinh học năm 2020.
Cuối cùng, sự nâng cấp toàn diện của ngành công nghiệp dược phẩm Trung Quốc còn dựa trên việc tích hợp nhanh chóng trí tuệ nhân tạo (AI). Những công ty như BioMap, được thành lập năm 2020 bởi nhà sáng lập công cụ tìm kiếm Bách Độ (Baidu) là Lý Ngạn Hoành (Robin Li), và dựa trên một kho dự trữ lớn các chip Nvidia của Mỹ, đang phát triển các nền tảng AI có khả năng phân tích khối lượng lớn dữ liệu sinh học của bệnh nhân, dự đoán hiệu quả và độc tính của các phân tử thuốc, qua đó tiếp tục rút ngắn thời gian chuyển từ phòng thí nghiệm sang giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.
Vì sao Châu Âu dần chuyển dịch sản xuất thuốc sang Trung Quốc ?
Tại Pháp và nhiều nước Châu Âu, các nhà máy sản xuất thuốc đã dần dần được chuyển dịch sang Trung Quốc để giảm giá thành. Trả lời đài FranceInter, ông Bruno Bonnemain, thành viên Viện Dược phẩm Quốc gia Pháp nhận định : "Hầu hết thuốc trên thị trường Pháp được sản xuất ở nước ngoài, đặc biệt là ở Châu Á, cụ thể là ở Trung Quốc, bởi vì đó là nơi họ sản xuất các hoạt chất, các thành phần thiết yếu của những loại thuốc này. Cụ thể hơn, các hoạt chất chủ yếu được sản xuất ở những quốc gia đó vì lý do chi phí, nhưng cũng vì lý do môi trường. Và vì vậy, hầu hết các nhà sản xuất đã quyết định chuyển địa điểm sản xuất (sang Trung Quốc) từ vài năm trước".
Ngoài việc tối ưu hóa lợi nhuận hay giữ chân khách hàng, còn phải thể kể tới chính sách "ép" giá của Nhà nước. Ông Bonnemain nhận định : "Tôi cho rằng trong nhiều năm qua Nhà nước đã ra chính sách liên tục hạ giá để chấp nhận các sản phẩm mới rất đắt tiền. Và tôi nghĩ rằng chính sách này có điểm bất cập. Chúng ta đã liên tục hạ giá các sản phẩm cũ qua từng năm. Và do đó, các nhà sản xuất, để vẫn có thể duy trì các sản phẩm này trên thị trường, buộc phải tìm ra những giải pháp để giảm chi phí sản xuất của các sản phẩm đó. Một trong những cách làm là thuê ở bên ngoài. Thuê ở Châu Á hoặc nơi khác, nhưng nhìn chung là thuê ngoài toàn bộ khâu sản xuất". Tại Trung Quốc hoặc Ấn Độ, các thành phần hóa học và viên nén có thể được sản xuất với chi phí thấp hơn đáng kể. Chi phí lao động ở đó cũng rẻ hơn và các quy định về môi trường ít khắt khe hơn.
Để hiểu được lý do vì sao chính phủ Pháp muốn giảm giá thuốc, cần biết rằng tại nhiều nước Châu Âu, Nhà nước chi trả phần lớn tiền thuốc thông qua bảo hiểm y tế. Quỹ dành cho tiền thuốc là có hạn, không thể tăng liên tục, trong khi các loại thuốc mới ra lại có giá rất đắt. Do vậy để có thể có tiền chi trả cho các loại thuốc mới, Nhà nước nghĩ đến việc "ép" giá các loại thuốc cũ. Thuốc cũ là những loại thuốc đã hết bảo hộ bởi bằng sáng chế, hoặc đã được lưu hành từ lâu với nhu cầu ổn định.
Đâu là những mối nguy tiềm tàng từ sự chuyển dịch này ?
Đầu tiên cần kể tới việc tụt hậu về năng lực nghiên cứu và sản xuất. Pháp vẫn duy trì được những năng lực trong lĩnh vực nghiên cứu dược phẩm, nhưng năng lực sản xuất dược phẩm đã suy yếu dần theo thời gian. Những năm 2000 và 2010 chứng kiến hàng loạt vụ đóng cửa nhà máy dược phẩm. Các đợt chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài nối tiếp nhau đã khiến hàng nghìn nhân viên trong ngành công nghiệp dược chịu cảnh thất nghiệp. Chẳng hạn, một cơ sở đặt tại Villeneuve-la-Garenne (tỉnh Hauts-de-Seine, ngoại ô phía tây bắc Paris), chuyên sản xuất heparin — một chất chống đông máu — vửa phải đóng cửa và nhiều kế hoạch cắt giảm lao động (PSE) được tiến hành. Chúng cũng làm suy yếu hệ sinh thái nghiên cứu, khi làm lỏng lẻo các mối liên kết giữa phòng thí nghiệm, sản xuất và đổi mới. Về lâu dài, chính năng lực của quốc gia trong việc định hình các lựa chọn về y tế công cộng cũng bị hạn chế.
Bên cạnh đó còn có nỗi lo Trung Quốc có thể "khóa van" nguồn cung ứng thuốc đối với Liên Hiệp Châu Âu. Ý định của Bắc Kinh trong việc khai thác sự phụ thuộc kinh tế như một công cụ gây sức ép đã từng thể hiện rõ trong cuộc xung đột thuế quan với tổng thống Mỹ Donald Trump khi chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã áp đặt các hạn chế đối với xuất khẩu đất hiếm.
Nghị sĩ Đức Michael Müller nhận định rằng sự phụ thuộc này khiến các quốc gia Châu Âu dễ bị tổn thương trước các gián đoạn nguồn cung ứng. Trong trường hợp khủng hoảng y tế, căng thẳng địa chính trị hoặc nếu Bắc Kinh quyết định ưu tiên thị trường nội địa, nguy cơ không tiếp cận được các loại thuốc thiết yếu có thể rất lớn. Đại dịch Covid-19 đã cho thấy rõ mức độ mà sự phụ thuộc vào các chuỗi sản xuất toàn cầu có thể nhanh chóng dẫn đến tình trạng khủng hoảng thuốc như thế nào.
Minh Phương