2026-08-17T20:30:00Z

Vì sao làn sóng quốc hữu hóa doanh nghiệp đang trở lại trên thế giới ?

Vì sao làn sóng quốc hữu hóa doanh nghiệp đang trở lại trên thế giới ? | Vietnam Fraternité

Quốc tế

Phân tích

Trong nhiều thập niên, tư nhân hóa được xem là xu hướng chủ đạo của nền kinh tế toàn cầu. Nhưng vài năm gần đây, trong bối cảnh gia tăng căng thẳng địa chính trị liên quan đến nguồn cung nguyên liệu thô và sự cạnh tranh từ Trung Quốc, chính phủ nhiều quốc gia, từ Anh, Pháp, Bỉ cho đến Mỹ hay nhiều nước đang phát triển, ngày càng muốn nắm lại quyền kiểm soát những doanh nghiệp được coi là có ý nghĩa chiến lược.

Vietnam Fraternité

Trung tuần tháng 07/2026, chính phủ Anh quốc hữu hóa tập đoàn British Steel. Trong ành, nhà máy luyện thép Scunthorpe, thuộc tập đoàn này. AP - Anna Gowthorpe

Vì sao quốc hữu hóa đang trở thành chủ đề nóng tại nhiều nước ?

Trong những năm vừa qua, người ta đang chứng kiến một sự thay đổi lớn trong nhận thức, đánh giá của các quốc gia về vai trò của các doanh nghiệp. Ví dụ tiêu biểu là vào ngày 16/07/2026, chính phủ Anh đã quốc hữu hóa trở lại tập đoàn luyện thép British Steel, từng bị tư hữu hóa dưới thời thủ tướng Margaret Thatcher năm 1988. Vài ngày trước khi chuyển giao quyền lực cho người kế nhiệm, thủ tướng Keir Starmer đã giải thích rằng quyết định này là nhằm "bảo đảm tương lai của ngành sản xuất thép ở Anh, bảo vệ việc làm cho người có tay nghề cao và duy trì năng lực quốc gia quan trọng". Những lĩnh vực chiến lược như ô tô, sản xuất đường ống dẫn nhiên liệu, công nghiệp đường sắt hay quốc phòng, trên thực tế đều phụ thuộc vào thép.

Xu hướng này không chỉ diễn ra trong ngành thép. Tân thủ tướng Anh Andy Burnham, còn có tham vọng kiểm soát trở lại các lĩnh vực dịch vụ công như nước sạch, nhà ở, năng lượng, giao thông. Tại Pháp, chính phủ đã tái quốc hữu hóa tập đoàn điện lực EDF vào năm 2023 nhằm bảo đảm an ninh năng lượng. Bỉ vào tháng 4/2026, cho biết muốn đưa các nhà máy điện hạt nhân về dưới sự quản lý của Nhà nước.

Theo báo Pháp Le Monde, ngay cả ở Mỹ, đảng Cộng Hòa đang xoay lưng lại với chủ nghĩa tự do kinh tế do tổng thống Ronald Reagan khởi xướng từ năm 1981-1989. Tổng thống Donald Trump vào đầu tháng 6/2026, tuyên bố không loại trừ khả năng chính quyền Mỹ sẽ đầu tư vào các công ty phát triển Trí tuệ Nhân tạo (AI). Ngoài ra, chính phủ còn là cổ đông chính tại tập đoàn khai thác và chế biến đất hiếm duy nhất trong nước, theo trang tin (IMF).

Nhà sử học Nicholas Mulder, trường đại học Cornell của Mỹ, và là tác giả tập sách The Age of Confiscation, tạm dịch là Thời đại trưng thu (Nhà xuất bản Allen Lane 2026), trên trang mạng của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đưa ra con số ước tính, trong giai đoạn 2016-2026, có khoảng từ 239 đến 544 tỷ đô la tài sản bị quốc hữu hóa. Nhìn vào con số này, ông đánh giá : "Các quốc gia nắm lấy quyền kiểm soát các công ty và các nguồn lực tư nhân với một tốc độ chưa từng thấy trong vòng 50 năm qua".

Nguyên nhân nào thúc đẩy các chính phủ thay đổi quan điểm sau nhiều thập niên tư nhân hóa ?

Có thể nói là do ba cú sốc lớn. 

Thứ nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Khi đó, nhiều tập đoàn lớn đứng trước nguy cơ phá sản và chính các chính phủ phải dùng tiền công để cứu trợ. Điều này khiến nhiều người đặt câu hỏi : Nếu Nhà nước phải cứu doanh nghiệp khi khó khăn, tại sao họ lại không có vai trò lớn hơn trong quản lý những doanh nghiệp quan trọng ?

Thứ hai là đại dịch Covid-19. Đợt dịch bệnh này cho thấy các chuỗi cung ứng toàn cầu mong manh hơn người ta tưởng. Nhiều quốc gia phát hiện họ phụ thuộc quá nhiều vào hàng hóa và nguyên liệu nhập khẩu, từ thiết bị y tế đến linh kiện công nghiệp.

Và thứ ba là căng thẳng địa chính trị ngày càng gia tăng. Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, cuộc chiến tại Ukraine hay những tranh chấp liên quan đến nguyên liệu chiến lược đang khiến các nước nhận ra rằng kinh tế và an ninh quốc gia không thể tách rời nhau.

Đây có phải là làn sóng quốc hữu hóa đầu tiên trong lịch sử kinh tế hiện đại ?

Hoàn toàn không. Theo nhà sử học Nicholas Mulder, thế giới đang trải qua làn sóng quốc hữu hóa thứ tư trong vòng khoảng một thế kỷ qua. Lần thứ nhất xuất hiện vào thời kỳ Đại Khủng Hoảng trong những năm 1930, khi các chính phủ nhận ra rằng thị trường tự do không thể tự điều chỉnh trước những cú sốc kinh tế quá lớn và Nhà nước phải can thiệp để cứu hệ thống tài chính cũng như các ngành kinh tế thiết yếu.

Trên trang mạng IMF, ông giải thích, "làn sóng quốc hữu hóa trong những năm 1930 là triệu chứng của sự tan rã của hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu. Trong ngắn hạn, nó ngăn chặn được tình trạng phá sản, nhưng đồng thời, nó làm phân mảnh thị trường quốc gia và làm giảm thương mại và đầu tư quốc tế. Theo thời gian, sự tham gia ngày càng tăng của vốn nhà nước đã mang lại cho các chính phủ quyền tự chủ lớn hơn và cho phép họ định hình trật tự kinh tế thế giới mới vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai".

Làn sóng thứ hai diễn ra sau Đệ Nhị Thế Chiến. Nhiều nước Châu Âu quốc hữu hóa các ngành như điện lực, đường sắt, than đá hay viễn thông để phục vụ công cuộc tái thiết đất nước và xây dựng nhà nước phúc lợi.

Đợt thứ ba xảy ra trong thập niên 1970, sau các cú sốc dầu mỏ. Các quốc gia sở hữu tài nguyên thiên nhiên tìm cách giành quyền kiểm soát các nguồn dầu khí và khoáng sản để hưởng lợi nhiều hơn từ sự gia tăng giá nguyên liệu trên thị trường thế giới. Từ năm 1971 đến 1980, khoảng 26 tỷ đô la tài sản do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ đã bị quốc hữu hóa tại các nước đang phát triển, chiếm khoảng 11% tổng vốn đầu tư nước ngoài của họ.

Còn làn sóng thứ tư hiện nay được thúc đẩy bởi đại dịch Covid-19, căng thẳng địa chính trị, sự cạnh tranh công nghệ với Trung Quốc và nỗi lo về an ninh chuỗi cung ứng. Nếu ba làn sóng trước chủ yếu nhằm ứng phó với khủng hoảng kinh tế, chiến tranh hoặc tài nguyên, thì làn sóng hiện nay hướng tới một mục tiêu rộng hơn : bảo vệ chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia trong một thế giới ngày càng phân cực.

Trung Quốc có tác động như thế nào đến làn sóng quốc hữu hóa hiện nay ?

Le Monde dẫn nhận định của Ha Joon Chang, kinh tế gia tại đại học SOAS tại Luân Đôn, chuyên gia về Châu Phi, Châu Á và Trung Đông, lưu ý, "nếu như lập luận địa chính trị ngày càng được sử dụng ở phương Tây để biện minh cho việc quốc hữu hóa, đó là vì phương Tây cảm thấy bị đe dọa trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc". Bởi vì, để có được sức mạnh như ngày nay, đại cường Châu Á này đã hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp thông qua các khoản vay ưu đãi, giảm thuế hoặc cấp đất, và có những khoản đầu tư công cũng như chiến lược công nghiệp dài hạn.

Về phần mình, nhà sử học Nicholas Mulder cho rằng, trong một thế giới mà các nền kinh tế bị mắc kẹt bởi sự cạnh tranh, việc Bắc Kinh sử dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu đất hiếm để gây áp lực lên các đối thủ, đã thúc đẩy các nước phương Tây cố gắng giành lại quyền kiểm soát các tài sản thiết yếu đối với "an ninh quốc gia".

Liệu đây có phải là sự kết thúc của thời đại kinh tế thị trường ?

Nếu những đợt quốc hữu hóa trước đây nhằm cứu vãn nền kinh tế, tái thiết đất nước hoặc giành quyền kiểm soát tài nguyên, thì đợt quốc hữu hóa hiện nay còn phản ánh nhu cầu tự chủ chiến lược của các quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt.

Tuy nhiên, điểm khác biệt của làn sóng quốc hữu hóa hiện nay so với ba đợt trước, là chính phủ không muốn kiểm soát toàn bộ nền kinh tế. Các doanh nghiệp lại được coi như là những công cụ của chủ quyền và là đòn bẩy quyền lực phục vụ quốc gia, và do vậy, chính phủ các nước có xu hướng quay trở lại với vai trò như là một nhà đầu tư, một cổ đông, một người định hướng chiến lược.

Nhật báo Pháp Le Monde, lấy Hoa Kỳ làm ví dụ tiêu biểu : Mùa hè năm 2025, chính phủ Mỹ tuyên bố mua 10% cổ phần của Intel, một nhà sản xuất chip điện tử và 15% cố phần MP Materials, gã khổng lồ về đất hiếm. Thỏa thuận bao gồm các khoản đầu tư trị giá vài tỷ đô la vào công ty khai thác mỏ, mua sản lượng của công ty với giá cực thấp và xây dựng một nhà máy tại Hoa Kỳ để sản xuất nam châm, một thành phần được sử dụng trong tên lửa, hệ thống radar, tua bin gió và xe điện.

Ở thượng nguồn trong chuỗi giá trị, một số quốc gia sản xuất khoáng sản chiến lược như Mali, Mozambic… cũng đang cố gắng giành lại quyền kiểm soát tài nguyên của mình, hy vọng củng cố chủ quyền – đặc biệt là để đối phó với Trung Quốc, quốc gia đã mở rộng ảnh hưởng của mình đối với nhiều hoạt động khai thác mỏ để đảm bảo nguồn cung nhưng cũng để tận dụng các nguồn tài nguyên này cho sự phát triển và ảnh hưởng của mình.

Theo Julien Bouissou

Nguyên tác : "Pourquoi les nationalisations d’entreprises font leur grand retour dans le monde", Le Monde, 08/08/2026

Minh Anh lược dịch

Nguồn : RFI, 17/08/2026