2026-05-08T21:30:00Z

Việt – Ấn với "Đối tác chiến lược tăng cường" : Làm cho rõ mặt đôi ta...

Việt – Ấn với "Đối tác chiến lược tăng cường" : Làm cho rõ mặt đôi ta... | Vietnam Fraternité

Tiêu điểm

Phân tích

Xuân Diệu có câu thơ nổi tiếng : "Làm sao sống được mà không yêu...". Nhưng trong chính trị quốc tế, đặc biệt ở Châu Á hôm nay, các quốc gia lại thường "yêu mà không tiện nói", "gần mà không được gọi tên", "liên kết nhưng không thành liên minh". Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường (Enhanced Comprehensive Strategic Partnership – ECSP) vì vậy, hàm ý khá nhiều tín hiệu ngầm.  

Vietnam Fraternité

Ông Tô Lâm, Tổng bí thư - Chủ tịch nước Việt Nam,  phát biểu chính sách tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ - Ảnh : TTXVN

Bởi thế, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (từ 5 – 7/5/2026) và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên "Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường" (Enhanced Comprehensive Strategic Partnership – ECSP) thực chất là một động thái có ý nghĩa vượt xa nghi lễ ngoại giao thông thường. Nó giống như một nỗ lực "làm cho rõ mặt đôi ta" (Kiều) giữa Hà Nội và New Delhi sau nhiều năm hai bên cùng nhìn nhận những giá trị chiến lược của nhau nhưng vẫn giữ một khoảng cách đủ an toàn để không gây ra những xáo trộn địa-chính trị không cần thiết.  

Nếu soi kỹ vào phát biểu của ông Tô Lâm tại Hội đồng Các vấn đề thế giới của Ấn Độ (ICWA), phát biểu của Thủ tướng Narendra Modi tại họp báo, cũng như ngôn ngữ được lựa chọn trong Tuyên bố chung, có thể thấy rõ đây không chỉ là sự nâng cấp danh xưng (1), (2), (3). Các diễn ngôn đều phản ánh một sự thay đổi quan trọng trong cách Việt Nam và Ấn Độ nhìn nhận nhau trong cấu trúc quyền lực mới ở Châu Á – nơi Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn, Mỹ ngày càng hiện diện sâu hơn, còn các cường quốc tầm trung như Ấn Độ, Nhật Bản hay Việt Nam buộc phải tìm kiếm các dạng thức liên kết linh hoạt để bảo đảm không gian chiến lược của mình.  

Điều đáng chú ý đầu tiên là khái niệm "Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường" thực chất khác gì với "Đối tác chiến lược toàn diện" trước đây ? Về hình thức, nhiều nhận xét có thể nhầm tưởng, đây chỉ là một kiểu "thêm tính từ ngoại giao", bởi Việt Nam và Ấn Độ vốn đã có Đối tác chiến lược toàn diện (CSP - Comprehensive Strategic Partnership) từ năm 2016. Tuy nhiên, trong ngoại giao hiện đại, đặc biệt giữa các quốc gia Châu Á vốn rất tiết kiệm ngôn từ chiến lược, việc thêm một chữ "Tăng cường" (Enhanced) chưa bao giờ là ngẫu nhiên. Nếu CSP trước đây chủ yếu đặt trọng tâm vào lòng tin chính trị, giao lưu cấp cao, hợp tác quốc phòng ở mức nền tảng, thương mại và giao lưu nhân dân, thì ECSP lần này cho thấy hai nước đã bước sang một tầng liên kết sâu hơn nhiều : liên kết chiến lược trong cấu trúc khu vực.  

Nói cách khác, CSP 2016 mang dáng dấp của quan hệ "hữu nghị chiến lược" còn ECSP 2026 bắt đầu mang đặc điểm của một "liên kết chiến lược thực chất". Điều này thể hiện rất rõ trong những cụm từ được các bên sử dụng như "hội tụ chiến lược" (strategic convergence), "tầm nhìn chung" (shared vision) hay "an ninh kinh tế" (economic security). Đây không còn là ngôn ngữ của ngoại giao tượng trưng mà là ngôn ngữ của địa chính trị. Khi New Delhi nhấn mạnh chuỗi cung ứng chiến lược, khoáng sản hiếm, an ninh kinh tế, công nghệ cao và an ninh hàng hải, điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam đã được đặt vào một vị trí mới trong chiến lược "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở" (Free and Open Indo-Pacific / FOIP) của Ấn Độ. Trong mắt New Delhi, Hà Nội nay không chỉ là một người bạn truyền thống ở Đông Nam Á mà đang trở thành một mắt xích quan trọng trong nỗ lực định hình lại cán cân chiến lược tại Indo-Pacific. 

Thực ra, nếu đọc kỹ các bài phân tích của báo chí Ấn Độ như Economic Times hay Times of India, ta sẽ thấy New Delhi xem đây không chỉ là chuyến thăm song phương thông thường. Truyền thông Ấn Độ nhìn chuyến đi này qua lăng kính Indo-Pacific, cạnh tranh chiến lược và tái định hình cán cân quyền lực ở Châu Á. Trong logic đó, Việt Nam nổi lên như đối tác ASEAN có độ tin cậy chiến lược cao nhất đối với Ấn Độ. Không phải ngẫu nhiên mà New Delhi trong nhiều năm liên tục đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Hà Nội, từ huấn luyện tàu ngầm, tín dụng quốc phòng cho tới các cuộc thảo luận liên quan tên lửa BrahMos.  

Chính vì thế, việc phía Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh cuộc gặp giữa ông Tô Lâm và Cố vấn An ninh quốc gia Ajit Doval trước cả nhiều hoạt động ngoại giao khác là một chi tiết cực kỳ đáng chú ý (4). Trong cấu trúc quyền lực hiện nay của Ấn Độ, Ajit Doval không chỉ là một cố vấn an ninh đơn thuần. Ông là một trong những kiến trúc sư chiến lược quan trọng nhất của thời đại Modi, người trực tiếp tham gia xây dựng học thuyết an ninh mới của Ấn Độ, thúc đẩy chiến lược "Hướng Đông" (Act East) và định hình cách New Delhi tiếp cận Indo-Pacific. Khi Việt Nam nhấn mạnh cuộc gặp này, điều đó cho thấy trục an ninh đang trở thành phần lõi thực sự của ECSP.  

Có một quy luật bất thành văn trong ngoại giao Châu Á : những vấn đề nhạy cảm nhất thông thường ít khi được thể hiện trong các thông báo về hội đàm chính thức mà được xử lý qua các kênh nội bộ hoặc kênh an ninh quốc gia. Những nội dung liên quan tới chia sẻ thông tin chiến lược, công nghệ quốc phòng, hợp tác trên biển hay các phương án cân bằng với Trung Quốc thường hiếm khi được công khai đầy đủ trên truyền thông. Bởi vậy, việc ông Tô Lâm tiếp ông Ajit Doval mang nhiều ý nghĩa hơn một nghi thức ngoại giao thông thường. Nó cho thấy Hà Nội và New Delhi đang xây dựng những tầng hợp tác sâu hơn nhiều so với phần nổi được công bố.  

Nhưng nghịch lý thú vị nằm ở chỗ : dù quan hệ được nâng cấp lên ECSP và truyền thông quốc tế và Ấn Độ nói khá nhiều về khả năng Việt Nam mua BrahMos (5), báo chí Việt Nam gần như né tránh hoàn toàn các khái niệm như "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở" (FOIP/Free and Open Indo-Pacific), "đối trọng Trung Quốc" hay "mua hàng nóng" (6). Đây không phải là sự im lặng ngẫu nhiên mà phản ánh rất rõ phong cách "diễn ngôn lấp lửng" đặc trưng của Hà Nội.  

Việt Nam hiện đứng trước một bài toán khá nan giải : làm thế nào tăng cường năng lực răn đe chiến lược mà không bị cuốn vào logic liên minh đối đầu kiểu Chiến tranh Lạnh mới. Nếu Hà Nội công khai nói nhiều về BrahMos, FOIP hay hợp tác an ninh biển nhằm đối phó sức ép trên Biển Đông, điều đó dễ bị Bắc Kinh diễn giải như một bước tham gia vào cấu trúc kiềm chế Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam dù muốn đa dạng hóa đối tác chiến lược nhưng vẫn không muốn phá vỡ ổn định tổng thể trong quan hệ với Bắc Kinh (7).  

Đó là lý do có thể giải thích một kiểu diễn ngôn đặc thù : hợp tác an ninh thì có thật, nhưng ngôn ngữ công khai lại được "phi quân sự hóa". Hà Nội nói nhiều về "an ninh phi truyền thống", "ổn định khu vực", "hợp tác công nghệ", "thượng tôn pháp luật" hơn là liên minh, răn đe hay đối trọng. Nói cách khác, Việt Nam đang cố gắng "tham gia nội dung nhưng tránh tham gia nhãn hiệu". Đây phải chăng là một phong thái đối ngoại "Cây Tre 2.0" ở cấp độ địa chính trị ?  

Điều nói trên cũng liên quan trực tiếp tới cách Việt Nam đọc chiến lược "Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở" (FOIP). Trong mắt Mỹ, Nhật và Ấn Độ, FOIP mang màu sắc định hướng rất rõ, nhấn mạnh tự do hàng hải và đối trọng với Trung Quốc. Qua chuyến thăm Hà Nội của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi, càng thấy rõ hơn, FOIP như một cấu trúc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ (8). Còn Ấn Độ thì diễn giải FOIP theo hướng "bao trùm và đa cực", nhưng tránh biến nó thành một "tiểu NATO Châu Á" (9). Trong khi đó, Việt Nam lại tiếp cận FOIP theo một logic đa tầng, mềm dẻo hơn nhiều.  

Ở tầng thứ nhất, Việt Nam đọc FOIP như một cơ hội kinh tế : đa dạng hóa chuỗi cung ứng, thu hút công nghệ cao, bán dẫn, khoáng sản hiếm và logistics (10). Đây là phần Hà Nội cảm thấy an toàn nhất vì nó phù hợp với mục tiêu phát triển quốc gia. Ở tầng thứ hai, Việt Nam xem FOIP như một không gian pháp lý để bảo vệ UNCLOS 1982, tự do hàng hải và giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. Đây thực chất là "phiên bản ASEAN hóa" của FOIP (11). Nhưng ở tầng thứ ba – đối trọng và cân bằng quyền lực – Việt Nam cực kỳ thận trọng. Hà Nội hiểu rằng mình hưởng lợi từ sự hiện diện của Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Úc trong việc duy trì cân bằng khu vực, nhưng đồng thời cũng hiểu rằng việc đứng quá gần bất kỳ cực nào đều có thể khiến không gian chiến lược bị thu hẹp (12).  

Chính ở điểm này, quan hệ tay ba Việt Nam – Ấn Độ – Trung Quốc trở nên đặc biệt đáng chú ý. Trong nhiều năm gần đây, New Delhi và Bắc Kinh cạnh tranh ảnh hưởng ngày càng gay gắt, trong không gian từ Himalaya tới Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Việt Nam vì thế nổi lên như một đối tác quan trọng của Ấn Độ trong chiến lược "Hướng Đông". Nhưng Hà Nội cũng hiểu rất rõ rằng mình không thể trở thành "tiền đồn" của bất kỳ chiến lược chống Trung Quốc nào. Việt Nam cần Ấn Độ để mở rộng không gian sinh tồn, nhưng đồng thời cũng cần duy trì ổn định với Bắc Kinh để bảo đảm môi trường phát triển.  

Đó là lý do tương lai quan hệ Việt – Ấn có nhiều khả năng sẽ tiếp tục phát triển theo hướng "sâu nhưng mềm", "kết nối chặt nhưng không khoa trương". Tức là hợp tác thực chất về an ninh, công nghệ và kinh tế sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn, nhưng ngôn ngữ công khai vẫn sẽ được tiết chế rất cẩn trọng. Mỹ – Trung càng cạnh tranh gay gắt, Việt Nam càng phải khôn khéo trong việc quản trị hình ảnh chiến lược của mình (13).

Trong bối cảnh ấy, câu hỏi về khả năng Việt Nam gia nhập BRICS cũng trở nên thú vị (14). Về lý thuyết, Việt Nam có nhiều điều kiện phù hợp với "BRICS+" : quan hệ tốt với Nga, Trung Quốc và Ấn Độ ; có vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN ; nền kinh tế mở và vị thế địa chiến lược nổi bật. Nhưng trên thực tế, Hà Nội vẫn rất thận trọng. Lý do không chỉ nằm ở kinh tế mà còn ở tín hiệu địa chính trị. Sau khi mở rộng, BRICS ngày càng mang màu sắc của một cấu trúc nhằm giảm ảnh hưởng phương Tây và thách thức vai trò của đồng đô la (USD). Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc về thương mại, đầu tư cũng như công nghệ. Gia nhập BRICS quá sớm có thể tạo ra những cách diễn giải không có lợi cho chiến lược cân bằng hiện nay của Hà Nội.  

Có lẽ vì vậy, Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và tới đây vẫn tiếp tục ưu tiên chiến lược "đa liên kết" thay vì "liên kết khối". Hà Nội muốn kết nối với mọi cực-quyền-lực mà không bị khóa chặt vào bất kỳ cực nào. Đây cũng chính là điểm làm nên sự khác biệt của đối ngoại Việt Nam so với nhiều nước tầm trung khác.  

Nhìn rộng hơn, phản ứng của báo chí quốc tế và Ấn Độ đối với chuyến thăm lần này cũng phản ánh sự thay đổi vị thế của Việt Nam trong cấu trúc khu vực. Điều họ quan tâm không phải nghi thức ngoại giao mà là ý nghĩa địa chính trị : ECSP, BrahMos, chuỗi cung ứng chiến lược, đất hiếm, FOIP và vai trò mới của ông Tô Lâm. Điều này cho thấy Việt Nam hiện không còn được nhìn đơn thuần như một quốc gia Đông Nam Á đang phát triển, mà đang được xem như một "swing state" – một quốc gia có khả năng ảnh hưởng tới cán cân chiến lược khu vực (15).  

Và có lẽ, ý nghĩa sâu xa nhất của ECSP nằm ở đó. Nó không phải sự lựa chọn phe phái, mà là nỗ lực nới rộng không gian chiến lược của cả Hà Nội lẫn New Delhi trong một Châu Á đang bước vào thời kỳ phân cực mạnh hơn. Ấn Độ cần Việt Nam để đi sâu hơn vào Đông Nam Á và Biển Đông ; Việt Nam cần Ấn Độ để đa dạng hóa đối tác chiến lược và tránh bị khóa chặt trong cạnh tranh Mỹ – Trung. Còn Trung Quốc, dù không được nhắc tên quá nhiều, thực chất lại là chiếc bóng hiện diện trong toàn bộ logic của câu chyện này.  

Bởi vậy, "CSP tăng cường" suy cho cùng không chỉ là câu chuyện của hai nước. Nó là biểu hiện của một Châu Á mới, nơi các quốc gia tầm trung ngày càng chủ động hơn trong việc định hình số phận chiến lược của mình. Và trong thế giới ấy, điều quan trọng mà Hà Nội muốn thể hiện, không phải là đứng hẳn về phía nào, mà là làm sao đủ mạnh để "làm cho rõ mặt đôi ta" với tất cả các bên, nhưng vẫn giữ được khoảng cách cần thiết để không tự đánh mất chính mình (16).   

Đinh Hoàng Thắng

(08/05/2026)

Tham khảo :

(1) Tô Lâm, "Phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ", Báo chính phủ, 06/05/2026

(2) Narendra Modi, "English Translation of Prime Minister's Press Statement during the Joint Press Statement with the General Secretary of the Communist Party of Vietnam and the President of Vietnam", Ministry of External Affairs, Government of India, May 06, 2026

(3) Duy Linh, "Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường", Tuổi Trẻ online, 07/05/2026

(4) VoV.vn, "Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Cố vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ", Báo chính phủ, 06/05/2026

(5) Surendra Singh, "Countering China ? India offers Vietnam BrahMos missile during President To Lam's visit", The Times of India, 08/05/2026

(6) Reuters, "India may discuss BrahMos missile sale to Vietnam during presidential visit, sources say", The Economic Times, 06/05/2026

(7) Khang Vu, "How Vietnam Can Balance Against China, on Land and at Sea", The Diplomat, 16/12/2022

(8) Jesse Johnson, "Takaichi pledges ‘more proactive’ role for Japan in Indo-Pacific strategy update", The Japan Times, 02/05/2026

(9) David Brunnstrom, "Indian foreign minister says does not share Ishiba vision for Asian NATO", Reuters, 01/10/2024

(10) Xiangning Wu, Joseph Ching Velasco, "Navigating the Indo-Pacific : Vietnam's Hedging Strategies Amid the Geopolitical Rivalry Between China and the United States", Project MUSE, Asian Perspective, Johns Hopkins University Press, Volume 48, Number 1, Winter 2024, pp. 95-118

(11) Huynh Trung Dung, Vu Thanh Tu Anh, "Balancing Without Allying : Vietnam’s Middle-Power Strategy Amids U.S. - China Rivalry", Belfer Center, Harvard Kennedy School, April 2026 

(12) Strategic ambiguity as survival tool, Taylor and Francis Online, 

(13) Jackson Lopez, "The fallacy of Vietnam’s bamboo diplomacy", Lowy Institute, 17/07/2026

(14) Maria Siow, "Vietnam’s strategic hesitation on Brics highlights delicate US ties and economic considerations", South China Morning Post, 03/01/2025 

(15) Khang Vu, "Vietnam and the Art of Choosing", The Diplomat, 15/02/2024

(16) Mercy A. Kuo, "How Middle Powers Shape Order in the Indo-Pacific", The Diplomat, 10/04/2025

------------------------------ 

* Một phiên bản Anh ngữ của bài viết trên bạn có thể đọc được tại đây : Hoang Thang Dinh (PhD, CRT Fellow), "Enhancing the Comprehensive Strategic Partnership between Vietnam and India : Reading Between the Lines", cauxroundtable, 08/05/2026