2026-07-01T21:00:00Z

Sài Gòn đổi tên, 50 năm sau nhìn lại

Sài Gòn đổi tên, 50 năm sau nhìn lại | Vietnam Fraternité

Tiêu điểm

Phân tích

Đường Phố Sài Gòn Trước 1975. Hành Trình Về Sài Gòn Xưa Qua 50 Bức Ảnh Tuyệt Đẹp | Ký Sự Ảnh Xưa

Đường Phố Sài Gòn Trước 1975. Hành Trình Về Sài Gòn Xưa Qua 50 Bức Ảnh Tuyệt Đẹp | Ký Sự Ảnh Xưa

Khi địa lý là định mệnh : Ký ức Sài Gòn nơi chiếc đồng hồ chợ Bến Thành

Nguyễn Hữu Liêm, BBC, 01/07/2026

"Khi vị Cha già sáng thế nhìn thấy sinh vật mà Ngài đã tạo ra liền quyết định dựng lên ảnh tượng di động của vĩnh hằng… chúng ta gọi là Thời Gian." 

(Plato, trong Timaeus)

Vietnam Fraternité

Tấm biển chào mừng đến khu Little Sài Gòn ở Denver, Colorado, Mỹ

Nếu nói theo Plato rằng "Thời gian là ảnh tượng di động của vĩnh hằng" thì tôi xin nói thêm "Không gian là quán trọ của ký ức".

Đối với khối dân di cư từ miền Nam qua Mỹ sau 1975 thì Sài Gòn chính là khoảng không gian vẫn còn dung chứa tràn ngập nỗi nhớ cho một thế hệ đang dần mất hết dấu vết quá khứ. Sài Gòn là di ảnh lưu động của một ngôi đền vĩnh hằng mà di dân chúng tôi ở California này vẫn thường đến chiêm bái và vọng tưởng về những gì đã không còn – nhưng nay đã trở nên vĩnh cửu. Khi đứng trước ngọn tháp cao tầng của ký ức, cái không còn chính là thực tại, cái đang là, ảo giác, và cái sẽ là vẫn mãi hư không.

Vietnam Fraternité

Chợ Bến Thành khoảng thập niên 1910

Khi địa phương là số phận : Người gốc Quảng Nam và Hà Nội 54

Sài Gòn là trạm trung chuyển lớn cho phần đất Trung và Nam bộ. Nơi đó là ga tàu đưa con người tứ xứ từ các địa danh nghèo khổ, quê mùa, mộc mạc lên đến nấc thang quốc tế, hoàn vũ.

Người miền Trung đến Sài Gòn để được chuyển hóa. Họ mang bản sắc cá tánh và nhân cách địa phương đến đô thị để va chạm và sinh tồn vốn đòi hỏi họ phải thay đổi. Anh chàng Hà Tĩnh đi mô cũng ngậm điếu thuốc vấn trên môi nay phải giấu đi khi ra khỏi nhà vì sợ mấy cô Sài Gòn thanh lịch che miệng nhìn cười. Nỗi ấm ức đầy mặc cảm của dân miền xa khi sánh vai với dân đô thị làm cho họ vươn lên bằng ý chí khát sống, háo thắng như một bản năng. Người Sài Gòn nhận xét rất bén về dân nhập cư. Hãy nói cho họ biết về quê quán của ngươi là họ sẽ biết gần hết về con người của bạn.

Từ cuối Thế kỷ 17, khi nhà Nguyễn thành lập Phủ Gia Định, với tên gọi Sài Gòn, thì đô thị mới này thể hiện tinh thần phóng khoáng của miền sông nước đầy năng động. Có lẽ ngoại trừ vụ tàn sát người gốc Hoa ở Chợ Lớn năm 1782 bởi lính của Tây Sơn Nguyễn Nhạc hay những năm sau 1975, dân Sài Gòn, so với các địa phương khác, ít bị những chấn thương lịch sử lớn. Có lẽ vì thế mà dân ở đây chấp nhận và dung hòa nhiều sắc dân rất khác biệt nhau về sinh sống. Dân Sài Gòn không căm thù, giết nhau vì khác biệt gốc gác. Quá lắm thì họ chỉ ghẹo dân Nghệ An một cách vô hại, dí dỏm, "Thằng xứ Nghệ ăng coong cá gỗ kìa," hay dân Hà Nội 54, "Ê thằng Bắc kỳ rau muống kia !"

Vietnam Fraternité

Một sinh viên trường Sĩ quan Không Quân dạo chơi với bạn gái khi được nghỉ phép cuối tuần ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn năm 1972.

Tuy nhiên, nếu bạn hỏi, từ góc độ địa lý, thì dân di cư miền nào xưa nay năng động nhất ở Sài Gòn, thì có lẽ họ sẽ nói là dân Quảng Nam, và sau 1954, dân di cư Hà Nội, Hải Phòng. Cho đến khoảng 10 năm trở lại đây, ví dụ, dân gốc Quảng Nam kiểm soát gần hết năm lãnh vực sinh hoạt, công quyền và kinh tế Sài Gòn : báo chí, công an, quán bia, bê thui và dệt may. Thời chiến tranh Quốc-Cộng, phần lớn các cán bộ Việt Cộng nằm vùng là người Quảng Nam. Cho đến ngày nay vẫn thế, dân gốc Quảng Nam vẫn là thành phần năng nổ nhất ở Sài Gòn, từ các nhóm bất đồng chính kiến đến văn chương, nghệ thuật.

Trong khi dân Hải Phòng dù năng động, hay dân gốc Hà Nội văn hay chữ tốt cũng bị dân gốc Quảng Nam gạt ra lề. Hỏi một nhà báo về lãnh đạo truyền thông ở Sài Gòn thì hầu hết là dân gốc Quảng Nam. Ngay cả dân gốc Thanh Nghệ Tĩnh cũng chỉ vươn lên ở lãnh vực khoa bảng, chính trị lãnh đạo, hay đại gia tư bản thân hữu, nhưng nhìn chung, về bình diện dân sự quần chúng, người Quảng Nam vẫn làm chủ tình hình.

Lạ lùng nhất là dân di cư gốc Huế ở Sài Gòn lại là khối dân bất động, liệt cơ, rất ít có nổi lên ở bất cứ lãnh vực nào, ngoại trừ trong các giáo hội Phật hay Công giáo. Có lẽ sự suy tàn của kinh đô và triều đại nhà Nguyễn ở Huế đã kéo theo sự tê liệt ý chí thế gian của con cháu xứ thần kinh Phú Xuân.

Nhìn chung, ta có thể nhận thấy một điều hiển nhiên : Người Hà Nội, hay Huế, có thể trở thành người Sài Gòn, từ giọng nói, đến tính cách – nhưng ngược lại thì không. Dân Sài Gòn có ra Hà Nội sinh sống từ nhỏ vẫn không trở thành người miền Bắc. Hình như Sài Gòn là trạm cuối – the final destination – cho đoàn xe lửa một chiều của dân tộc. Điều đó cho ta thấy rằng văn minh Sài Gòn từng đứng ở điểm cao nhất trong chiều dài tiến hóa của tâm hồn Việt Nam.

Chỉ khi đi ra khỏi nước, như trường hợp sau 1975, khi định cư ở một nền văn hóa cao hơn, thì người Sài thành mới trở thành người ngoại quốc – một cách dễ dàng. Làm người Việt, khi là một thành tố của dân tộc, đối với dân Sài Gòn, có lẽ là một gánh nặng, hơn là một ân huệ. Các khu phố Little Saigon khắp nơi trên thế giới chỉ là mối vương vấn tạm thời cho thành phố cũ.

Di sản lớn của con cháu nhà Minh, Trung Hoa

Từ khi nhà Minh sụp đổ ở giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu và Dương Ngạn Địch đem các dòng vọng tộc bị thất sủng sang miền Nam lánh nạn thì Sài Gòn đã nhận được một món quà con người lớn. Con cháu nhà Minh mang di sản tiến hóa cao cấp, tánh tình nhân hậu, hiền hòa, ngoại hình xinh đẹp, đến xây dựng miền Nam, nhất là các đô thị miền Tây. Từ đó, Sài Gòn là thủ phủ thừa hưởng gia tài văn minh nhân loại lớn đó.

Nếu các đại gia ở Sài Gòn muốn tìm thuê một gia nhân ở đợ, họ chỉ tìm các cô gái, các bà gốc miền Tây. Người miền Tây, mang dòng máu vọng tộc nhà Minh, với bản tánh hiền hòa, nặng chữ tín, không gian xảo, từ lâu vốn là một nguồn đạo đức khá vững chắc xây dựng văn hóa Sài Gòn. Họ không có khiếu văn chương, học thuật, hay mang tham vọng quyền lực, nhưng họ giỏi về buôn bán, kinh doanh, trọng chữ tín. Họ là xương sống văn hóa bình dân Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn. Nếu bạn có lần đứng chờ taxi dưới mái hiên phố Sài Gòn trong cơn mưa xối xả thì người Hoa trong nhà sẽ đem cho bạn chiếc ghế để bạn ngồi.

Văn minh Trung Hoa, từ bình diện nhân cách phổ thông, đã cho Sài Gòn một khối quần chúng như là món quà ân sủng di dân từ bi kịch lịch sử từ mấy thế kỷ trước. Có lẽ, người gốc Hoa đã từ lâu quân bình hóa, ít nhất từ bình diện tánh khí, nhân cách, cho các khối dân di cư từ miền Bắc và miền Trung vốn khá hung hãn, đầy mưu mô, nhiều tài năng. Nếu dân gốc Quảng Nam hay Thanh Nghệ Tĩnh là luồng năng lực tiên phong, thì dân gốc Hoa là nền móng nhân bản hiền hòa cho văn minh Sài Gòn.

Qua California với phố Bolsa : Chiếc đồng hồ chợ Bến Thành di cư

Khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975, những năm sau đó là phong trào di cư, tỵ nạn vươn ra biển lớn. Người Sài Gòn qua Hoa Kỳ tìm đường sống mới. Lần đầu tiên, có lẽ chỉ sau Nguyễn Ánh ở cuối thế kỷ 18, chưa có lần nào dân tộc Việt Nam nhìn đại dương, thay vì ngại trước không gian hiểm nguy ngăn cách, là một cơ hội thoát ly.

Khi xưa Nguyễn Ánh thành lập hạm đội hải quân để trở về lấy lại quê hương, thì sau 1975, người Việt, phần lớn là từ Sài Gòn và các tỉnh duyên hải miền Tây, đã liều mình làm thuyền nhân để từ bỏ quê nhà. Tức là dân vượt biên Sài Gòn là những tín đồ Nguyễn Ánh đảo ngược. Khi họ ra đi, sống chết mong manh, niềm hy vọng vùng đất mới Hoa Kỳ, hay Âu Châu, đã mạnh mẽ thúc đẩy họ hơn là sự níu kéo của quê hương để ở lại. Nếu Nguyễn Ánh vươn ra biển để lấy lại cơ đồ giang sơn, thì ngược lại, dân Sài Gòn muốn từ bỏ một thứ số phận địa lý ngặt nghèo.

Từ viễn cảnh lịch sử lâu dài, có thể nói rằng, phong trào vượt biển sang các nước Âu Mỹ sau 1975 là một cột mốc lớn, một ân huệ lịch sử – dù đầy đau thương. Dân tộc Việt Nam, lần đầu, được giải phóng khỏi định mệnh địa lý vốn trói chặt và giam hãm họ từ bao nhiêu đời với tánh khí địa phương nhiều khuyết điểm.

Dân Sài Gòn tìm đến Quận Cam, bang California, lập nghiệp. Phố Bolsa nay là một tiểu thị Chợ Lớn khác, mang danh tính mới, Little Saigon, với niềm kiêu hãnh của một khối di dân nhiều cao vọng. Bolsa là một quận nhỏ, muốn sao chép văn minh Sài Gòn xưa, đơn giản về kiến trúc, luộm thuộm về hình thái, cư dân thì ngổn ngang tâm sự qua hằng hà sa số các mẫu chuyện quá khứ cá nhân, họp mặt hội đoàn, các cơ sở kinh doanh nhỏ bé, các mâu thuẫn cộng đồng, những mùa tranh cử chính trị địa phương náo nhiệt.

Vietnam Fraternité

Phố Bolsa nay là một tiểu thị Chợ Lớn khác, mang danh tính mới, Little Saigon, với niềm kiêu hãnh của một khối di dân nhiều cao vọng.

Văn minh Bolsa, từ trang trí nơi quán cà phê, nhà hàng, hay ngôi chợ, văn phòng dịch vụ, là của một thể loại tâm thức duy sống còn. Bạn sẽ ngạc nhiên khi về lại Sài Gòn bây giờ, các quán cà phê, hay nhà hàng, mang tầm thiết kế nội thất rất cao cấp, mỹ thuật xứng đáng. Nhưng ở đó, từ góc quán, ta sẽ nghe Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng được thâu âm ở phố Bolsa. Người Sài Gòn ra đi, nhưng tâm hồn còn vương vấn vất vưởng nơi các góc phố kia.

Hôm nay, dân Bolsa gốc Sài Gòn cố gắng làm một bản sao quê nhà qua hình tượng chợ Bến Thành, với một chiếc đồng hồ lớn trên nóc. Tuy vậy, ở Mỹ hay Âu Châu, hay Nga Xô, ta khó mà hình dung ra một hình thái phố chợ giống như Sài Gòn cũ, vốn được dựng lên qua hơn ba thế kỷ. Năm mươi năm di cư chỉ là phút chốc trước chiều dài như bất tận của hơn 300 năm trường cửu. Khi ta nhìn chiếc đồng hồ ở góc phố Bolsa hôm nay, thay vì nó là một hình ảnh Sài Gòn xưa – đã trở thành một biểu cảm di động mà quá khứ và ký ức vốn đã bị thay thế bởi ý chí sinh tồn ở miền đất mới.

Ảnh tượng vĩnh hằng

Có thể rằng ân huệ lớn cho con cháu người Sài Gòn ở California, hay bất cứ địa phương hải ngoại nào, là khả năng quên đi quá khứ, lịch sử gia đình. Họ chỉ có tương lai – còn ký ức Sài Gòn thì chỉ là một giấc mơ muôn đời thoáng qua như sự di động của chiếc kim đồng hồ trên nóc chợ Bến Thành kia.

Như Plato từ hơn hai ngàn năm trước đã có lần suy diễn rằng khi Thượng Đế đã hoàn tất sáng thế, Ngài chỉ vào chiếc bóng bên tường rêu, gọi là ảnh tượng chuyển hóa từ ký ức muôn thửa, mà ta cho là Thời gian.

Đó chính là chiếc đồng hồ lớn mới được dựng lên mấy tháng trước trên nóc chợ người Việt gốc Hoa ở góc đường Brookhurst và Bolsa, thị xã Westminster. Nó vẫn mãi là biểu tượng hiếm muộn cho một Sài Gòn nay đã không còn.

Nguyễn Hữu Liêm

-----------------------

Tác giả Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, luật sư ở San Jose, California, Hoa Kỳ.

***********************

50 năm đổi tên : bản sắc của Sài Gòn là tự do

Nguyễn Viện, BBC, 01/07/2026

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc. Lịch sử cũng là lịch sử của thống nhất và chia rẽ.

Vietnam Fraternité

Người dân mua sắm chuẩn bị cho Tết Nguyên đán tại chợ Bến Thành vào tháng 1/1970

Hôm nay, Việt Nam đã thống nhất hơn 50 năm kể từ khi cuộc nội chiến 20 năm kết thúc. Dâu bể trong cuộc sống, trong lòng người tất nhiên là không thể tránh khỏi. Và câu chuyện lịch sử ấy chưa bao giờ khép lại.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm.

Cùng với cả triệu người từ miền Bắc, tôi di cư vào Nam năm 1954, lúc năm tuổi, và định cư ở Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ giữa một cánh rừng âm u hoang dã.

Một ngôi làng mới được dựng lên gọi là Rạch Bắp 4, gia đình tôi và dân làng đã sống thanh bình cho đến khi những người lính du kích của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam đầu tiên bất ngờ xông vào nhà tôi một chập tối, năm 1961.

Chúng tôi được mời ra sân nhà thờ họp. Tôi không biết điều gì đã xảy ra ở đó vì còn quá nhỏ.

Chỉ sau một tuần, mẹ tôi quyết định đưa cả gia đình bỏ làng, âm thầm ra đi như cách gia đình chúng tôi đã bỏ làng Đồng Xá, Hải Dương ra đi mấy năm trước.

Chiến tranh đã đến.

Cũng chỉ một thời gian ngắn sau, cả làng tôi buộc phải ra đi như hàng trăm ngàn người khác đã lần lượt chạy loạn trên khắp miền Nam, chúng tôi tràn về thành phố để được sống sót. Quê cũ tôi trở thành "vùng oanh kích tự do", một thuật ngữ thời chiến, nơi để con người chết mà không một ai phải chịu trách nhiệm.

Rồi tôi đã sống gần như cả một đời ở thành phố này.

Vietnam Fraternité

Nhà văn Nguyễn Viện vào những năm 1970

Là một công chức chế độ cũ được lưu dung sau 30/4/1975, và ở giữa một giai đoạn tràn trề khí thế của bên thắng cuộc và sự ê chề của bên thua cuộc, tôi như kẻ đi bên lề. Và tôi nhìn sự thay đổi trên quê hương mình như con sâu cái kiến giữa cơn xoáy được mất của quyền lực.

Theo tôi biết, từ khi còn chiến tranh, những người cộng sản đã có ý định thành lập Thành phố Hồ Chí Minh. Và tôi hiểu đó như một ý chí chiến thắng, tạo hưng phấn cho cuộc chiến đấu.

Rồi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời Miền Nam Việt Nam bị giải thể. Năm 1976, địa giới hành chính Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được thành lập bao gồm Sài Gòn và toàn bộ tỉnh Gia Định cũ.

Cảm xúc của tôi khi thành phố đổi tên vào thời điểm đó thật ra cũng không có gì đặc biệt. Tôi đã quen với sự xáo trộn từ ngay sau 30/4/1975.

Cuộc sống mới bắt đầu một cách khó hiểu và hiểm nguy luôn rình rập. Tôi cảm thấy cuộc đời mình đã chấm hết ở tuổi 26.

50 năm sau, Thành phố Hồ Chí Minh lại một lần nữa được mở rộng, gộp thêm tỉnh Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu. Từ một thành phố 3 triệu dân trước 1975, dân cư thành phố đã tăng lên gấp 4 lần vào năm 2026.

Nếu chỉ tính về quy mô dân số và địa giới hành chính, tôi đang sống trong một thành phố lớn của hành tinh.

Thú thật, cũng vui.

Nhưng có một sự thật khác trong tôi, dù nơi đây mang tên gì, với tôi – tôi vẫn là một người Sài Gòn, mang đủ nỗi niềm quá khứ, hiện tại của nó như một thứ thiêng liêng, một tình yêu và một cách sống.

Vietnam Fraternité

Thời trang trên đường phố Sài Gòn năm 1970

Trong sinh hoạt hằng ngày hay giới thiệu bản thân, tôi vẫn gọi địa danh này là Sài Gòn và tôi vẫn tự nhận là người Sài Gòn.

Tôi sẽ không nhân danh ai để yêu quý và thương nhớ thành phố này. Bởi đây là nơi tôi đã lớn lên, đã sống và hy vọng.

Nếu có gì để tiếc nuối cho một Sài Gòn mất tên, tôi sẽ tiếc nuối những chiều cuối tuần dạo phố Lê Lợi.

Tiếc cái xe nước mía Viễn Đông ở góc Lê Lợi – Pasteur, nơi mà không ai ở Sài Gòn có thể quên. Tôi còn tiếc cái quán Thanh Bạch bên cạnh rạp hát Vĩnh Lợi cùng bánh pâté chaud và ly cà phê sữa nóng. Ngon mãi trong ký ức.

Tuy nhiên, cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau một cách bình thường. Không có một cuộc đấu tố nào xảy ra.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Có những cái đã mất đi vĩnh viễn, nhưng cũng có những cái sẽ mãi mãi tồn tại.

Vietnam Fraternité

Sinh viên biểu tình ở Sài Gòn vào tháng 11/1967, trong đợt biểu tình đòi hòa bình, bầu cử dân chủ và quyền tự chủ dân tộc

Sài Gòn hôm nay chỉ còn là tên một phường. Nếu chỉ hiểu như một địa giới hành chính, thì quả thật cái tên Sài Gòn đã bị hạ bệ một cách thảm hại.

Nhưng tôi muốn muốn hiểu nó như một nỗ lực níu kéo của những người thiện tâm để lưu giữ một ký ức.

Người chiến thắng nào cũng muốn áp đặt, đóng dấu ấn của mình vào lịch sử.

Trong hơn 50 năm qua, đã biết bao lần địa giới hành chính được đổi tên trên khắp cả nước.

Nhưng tôi nghĩ sẽ không một ai quên Thành phố Hồ Chí Minh đã từng là Sài Gòn, cũng như Hà Nội đã từng là Thăng Long.

Cho dù Sài Gòn với những cái tên và các di sản đang bị xóa bỏ từng ngày. Cho dù ngay cả ngôn ngữ bản sắc của nó cũng đang dần phôi phai.

Cuộc sống vốn luôn thay đổi.

Dù thế nào, cũng phải công bằng nhìn nhận, sau 50 năm Sài Gòn cũng như đất nước này đã mang một khuôn mặt rất khác, sung túc và khang trang hơn.

Trong đó, sự góp phần của những trí thức cũ, mới và một vài nhà lãnh đạo sáng suốt từ Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là không nhỏ, khi người ta can đảm nhìn rõ những cực đoan, sai lầm của chủ nghĩa duy ý chí.

Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh lúc nào cũng là nơi tiên phong của cái mới, cả trước và sau 1975, trong mọi lãnh vực. Đó là tinh thần và bản lãnh Sài Gòn, điều đáng ghi nhận và trân trọng nhất.

Nhờ tinh thần và bản lãnh dám đi cùng cái mới ấy, không chỉ Thành phố Hồ Chí Minh mà cả đất nước này hầu như luôn hào hứng đón nhận cái mới mà những kẻ bảo thủ muốn chống đỡ cũng không thể ngăn cản. Và đó là hy vọng của tất cả chúng ta.

Nếu có điều gì để nói về Sài Gòn cũ với các thế hệ sau, tôi chỉ muốn nói rằng, đó là "miền đất của tự do" và cũng là nơi tạo nguồn cảm hứng cho cái mới xuất hiện.

Chỉ trong tự do, con người mới thật sự là mình. Và chỉ khi con người biết đổi mới, mới có tiến bộ.

Nguyễn Viện

-------------------------------

Nhà văn Nguyễn Viện sinh năm 1949 ở Hải Dương, hiện sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông có tập truyện được in đầu tiên năm 1995. Sau khi tiểu thuyết Thời của những nhà tiên tri giả của ông, ban đầu do Nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành, bị thu hồi năm 2003, các tác phẩm mới của ông đều do ông tự in.

Ông được chú ý qua các tác phẩm như Rồng và Rắn, Thời của những tiên tri giả, Ngồi bên lề rất trái (2011), Đĩ thúi và phần còn lại ở đời sau (2019), Thảo mai trên dốc gió (2021).

*****************************

Sài Gòn 50 năm đổi tên : Những gì đã mất và những gì trường tồn

BBC, 30/06/2026

Nửa thế kỷ trước, Sài Gòn mất tên, nhường chỗ cho Thành phố Hồ Chí Minh sau một quyết định của "bên thắng cuộc". Qua bao vật đổi sao dời, tên gọi Sài Gòn vẫn có sức sống mãnh liệt đời sống.

Vietnam Fraternité

Quang cảnh chợ Bến Thành vào ngày 20/1/1970

Trong một số phát biểu vào năm 2025, Tổng bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nói rằng Sài Gòn trước năm 1975 như một "Hòn ngọc Viễn Đông", đồng thời nhận xét vào những năm 1960, Sài Gòn là điểm sáng và "Singapore cũng không bằng".

Những phát biểu này thu hút sự chú ý không chỉ vì góc nhìn về lịch sử phát triển đô thị, mà còn bởi việc tên gọi "Sài Gòn" được nhắc đến một cách tự nhiên trong diễn ngôn chính thức của người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam.

Đã 50 năm kể từ khi Quốc hội Việt Nam quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976, nhưng cái tên Sài Gòn vẫn hiện diện mạnh mẽ trong đời sống – trong trao đổi hằng ngày, trong văn chương, âm nhạc, thương hiệu và trong ký ức của nhiều thế hệ.

"Đi vô Sài Gòn", "lên Sài Gòn", "mưa Sài Gòn", "người Sài Gòn", hay thậm chí câu rao bán hàng : "Bánh mì Sài Gòn, đặc ruột thơm bơ, bánh mì Sài Gòn, một ngàn một ổ..". không chỉ thân thuộc tại miền Nam mà còn lan ra tới tận miền Bắc.

Đó vẫn là cách nói quen thuộc của hàng triệu người dân trong và ngoài thành phố, kể cả những người sinh ra nhiều năm sau khi Sài Gòn đã chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tiếng ấy vẫn xuất hiện trên biển hiệu quán xá, trong tên doanh nghiệp, bài hát, tác phẩm văn chương và trong cách người dân gọi thành phố hằng ngày.

Nhưng ngoài cái tên vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, thành phố đã thay đổi ra sao sau nửa thế kỷ ?

Vietnam Fraternité

Những cô gái trẻ chạy xe Honda trên đường phố Sài Gòn năm 1972

Sài Gòn xưa : 'như ở nước ngoài'

Điều khiến thành phố này nổi bật trong nửa đầu thế kỷ 20 là một đời sống đô thị sôi động, một nền giáo dục phát triển và bầu không khí cởi mở hiếm có trong khu vực.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, nhà thơ, dịch giả Hoàng Hưng, một người "Hà Nội phố" đã chuyển vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1977, cho biết trước khi thành phố đổi tên, ông đã có dịp vào Sài Gòn thăm mẹ và họ hàng di cư từ năm 1954.

"Còn nhớ khi từ trên xe đò đi từ Đà Nẵng vào bước chân xuống đường Trần Quang Khải, tôi đã choáng ngợp tưởng như mình ra nước ngoài !

"Cảm nhận của tôi về Sài Gòn sau vài tháng sống ở đó thật rõ ràng : một thành phố đầy sức sống, với sự năng động của nền kinh tế thị trường, hàng hóa hết sức phong phú, đa dạng...

"Chỉ một gói mì tôm lúc đó cũng bao nhiêu ý nghĩa", ông chia sẻ.

Là trung tâm hành chính của Nam Kỳ thuộc Pháp, Sài Gòn đã sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa.

Người Việt, người Hoa, người Pháp, người Ấn và nhiều cộng đồng khác cùng sinh sống, tạo nên một đô thị đa sắc màu với những khu phố, chợ, nhà hàng, quán cà phê và nhà hát hoạt động nhộn nhịp.

Vietnam Fraternité

Đường phố Sài Gòn năm 1970

Những tờ báo như Gia Định Báo – tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, hay sau này là Chính LuậnSài Gòn Mới, Tự Do... trở thành diễn đàn của giới học giả, nhà văn, nhà báo và công chúng đô thị.

Trên các sạp báo ở trung tâm Sài Gòn, người dân có thể dễ dàng tìm thấy cả báo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp lẫn tiếng Hoa, thậm chí cả tạp chí Playboy, cho thấy mức độ đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và đời sống công cộng mà ít đô thị nào trong khu vực khi đó có được.

Sài Gòn cũng là một trong những trung tâm giáo dục quan trọng nhất của Đông Dương. Nơi đây tập trung nhiều trường học danh tiếng như Petrus Ký, Gia Long, Marie Curie hay Viện Đại học Sài Gòn, đào tạo nhiều thế hệ trí thức, nhà văn, nhà báo, chính khách và doanh nhân.

Sinh viên từ khắp miền Nam và cả Campuchia, Lào tìm đến Sài Gòn để học tập, góp phần biến thành phố thành trung tâm tri thức của khu vực.

Cùng với sự phát triển của giáo dục là một đời sống văn hóa phong phú. Sài Gòn có các nhà hát, rạp chiếu bóng, phòng hòa nhạc, hiệu sách, thư viện và các tụ điểm giải trí hiện đại. Âm nhạc, điện ảnh, cải lương và sau này là tân nhạc đều phát triển mạnh, tạo nên một không gian văn hóa năng động mà nhiều đô thị trong khu vực khi đó chưa có được.

Tinh thần cởi mở và khả năng tiếp nhận cái mới là một nét đặc trưng của Sài Gòn. Đây là nơi những xu hướng thời trang, âm nhạc, ẩm thực và lối sống mới thường xuất hiện đầu tiên trước khi lan ra các địa phương khác. Chính sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại đã tạo nên bản sắc riêng của thành phố.

Nhà thơ Hoàng Hưng, tác giả của những tập thơ tạo tiếng vang như Ngựa biển, Người đi tìm mặt, Hành trình,... cho biết ông rất ấn tượng với một nền giáo dục tốt đẹp, học sinh lễ phép kỷ luật ở Sài Gòn khi đó.

Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến kho sách khổng lồ, đa dạng của một nền văn học, nghiên cứu và dịch thuật cởi mở, nhiều chiều, khai thác văn hóa dân tộc, đặc biệt là Phật giáo, và cập nhật kiến thức quốc tế ; những tình khúc du dương, lãng mạn, đặc biệt là ca khúc Trịnh Công Sơn đầy ám ảnh da diết.

"Gần đây, có nghe Tổng bí thư Tô Lâm khen ngợi Sài Gòn những năm 1960 còn văn minh hiện đại hơn Singapore cùng thời gian, thì thấy cái tên Sài Gòn quả là gắn với một cuộc sống tốt đẹp đáng nhớ", nhà thơ Hoàng Hưng nói.

'Lịch sử sang trang'

Sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên thành phố bằng tên lãnh tụ Hồ Chí Minh, thay nhiều tên đường cũ bằng tên các nhà cách mạng, đảng viên cộng sản.

Vào ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 6, Quốc hội đã thông qua nghị quyết chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong phần mở đầu của nghị quyết, Quốc hội nêu rằng nhân dân Sài Gòn - Gia Định "luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người", đồng thời khẳng định thành phố "xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại".

Vào thời điểm đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng đang học đại học ở Huế.

"Những người đọc văn chương chữ nghĩa như chúng tôi thì chỉ thấy một điểm thôi : là lịch sử sang trang", ông nhớ lại.

Theo nhà ngôn ngữ học này, việc đổi tên Sài Gòn không phải là sáng kiến của Quốc hội năm 1976, mà thật ra là một ý định đã được nung nấu từ lâu.

Ông Dũng chỉ ra rằng trong bài thơ Ta đi tới ra đời vào năm 1954, nhà thơ Tố Hữu đã viết : Ai đi Nam bộ/ Tiền Giang, Hậu Giang/ Ai vô thành phố/ Hồ Chí Minh/ Rực rỡ tên vàng...

"Người chiến thắng thì họ làm cái gì tùy họ, nếu có ý kiến gì chắc là rất dễ dàng bị gán mác phản động. Còn những người có suy nghĩ xa hơn thì chưa chắc họ đồng ý, nhưng tôi không tin có ai đủ can đảm mở miệng can ngăn.

"Thành ra cái tên Thành phố Hồ Chí Minh được thông qua một cách nhẹ nhàng. Tâm lý xã hội người thì phấn khởi, người thì cay đắng, nhưng tất cả đều phải chấp nhận", ông nói với BBC.

Sài Gòn thành tên phường

Vào giữa thập niên 1970, khu vực Sài Gòn - Gia Định có khoảng hơn ba triệu dân. Đây là trung tâm kinh tế, thương mại và hành chính lớn nhất miền Nam Việt Nam, với hệ thống cảng, ngân hàng, trường đại học và các khu dân cư được hình thành qua nhiều thời kỳ.

Không gian đô thị khi ấy chủ yếu tập trung ở khu vực các quận (cũ) nội thành như Quận 1, Quận 3, Quận 5, Phú Nhuận và một phần Bình Thạnh. Xa hơn là những vùng ngoại ô với ruộng lúa, kênh rạch và làng xóm.

Ngày nay, sau nhiều lần mở rộng địa giới và đặc biệt sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu vào năm 2025, Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành siêu đô thị với diện tích và dân số lớn nhất Việt Nam (khoảng 6.772 km² và dân số hơn 14 triệu người).

Sài Gòn hiện nay là tên của một phường ở trung tâm thành phố, được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ phường Bến Nghé cùng một phần phường Đa Kao và phường Nguyễn Thái Bình của Quận 1 cũ.

Với diện tích hơn 3km2 và dân số hơn 47.000 người, phường này được xem là trái tim của thành phố, nơi tập trung nhiều công trình mang tính biểu tượng như phố đi bộ Nguyễn Huệ, Nhà hát Thành phố, trụ sở UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm và bờ sông Sài Gòn.

Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Dũng, người đã cùng gia đình chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ hơn 30 năm trước, Sài Gòn bắt đầu chỉ là khu vực trung tâm.

"Ví dụ như tôi ở Gò Vấp, mà nói là mai 'lên Sài Gòn', thì có nghĩa chính là lên khu trung tâm đó. Bây giờ gọi là phường Sài Gòn thì là phù hợp", ông nhận xét.

Trong khi đó, nhà thơ Hoàng Hưng nói rằng, với cá nhân ông "thôi thì phải chấp nhận" việc cái tên Sài Gòn được lưu giữ tới tư cách là một phường để nó không mất hẳn tên về mặt hành chính.

"Thực tình, tôi mong muốn Thành phố Hồ Chí Minh là một đại đô thị, bao gồm : thành phố Sài Gòn (hoặc Sài Gòn - Gia Định), thành phố Vũng Tàu, thành Thủ Dầu Một. Được thế là đẹp nhất", ông chia sẻ quan điểm.

Vietnam Fraternité

Quang cảnh Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4/2025

Thành phố Hồ Chí Minh qua những thăng trầm

Trong nửa thế kỷ kể từ khi mang tên Thành phố Hồ Chí Minh, đô thị lớn nhất Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm.

Nếu xét về nốt thăng, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay là đầu tàu kinh tế của Việt Nam, đóng góp khoảng một phần tư GDP cả nước và là trung tâm tài chính, công nghệ, logistics và dịch vụ lớn nhất.

Đây cũng là nơi hội tụ của con người từ mọi miền : sinh viên tới học tập, mọi tầng lớp người dân tới kiếm việc làm, cơ hội kinh doanh.

Hàng chục khu đô thị mới đã mọc lên ở phía Đông, phía Nam và phía Tây. Những nơi từng là đầm lầy hoặc vùng nông nghiệp như Thủ Thiêm, Phú Mỹ Hưng hay một phần TP Thủ Đức đã trở thành các trung tâm kinh doanh và khu dân cư hiện đại.

Hệ thống hạ tầng cũng thay đổi mạnh mẽ. Nếu như Sài Gòn trước đây chủ yếu phụ thuộc vào xe máy, xe buýt và đường bộ thì Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay đã có tuyến metro đầu tiên đi vào hoạt động sau gần 20 năm thi công, cùng mạng lưới đường cao tốc, đường vành đai và các dự án giao thông quy mô lớn đang tiếp tục được triển khai.

Nhà thơ Hoàng Hưng nhận định rằng những năm gần đây, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thay đổi theo hướng tốt, đặc biệt là xây dựng kiến trúc hiện đại ; dịch vụ, thương mại phục vụ đời sống người dân.

Theo ông, đó là nhờ nền kinh tế thị trường được khôi phục, kinh tế tư nhân được khuyến khích, từ đó mới có những thành tựu rõ ràng là các khu đô thị hiện đại như Phú Mỹ Hưng, Vinhomes... hay các hệ thống trường học tư thục và quốc tế ; hệ thống siêu thị ; hệ thống xe buýt công cộng ; hệ thống xe công nghệ mà ông cho là "hữu hiệu hơn nhiều nước khác".

"Tôi tin là với truyền thống năng động, cởi mở của người Sài Gòn và đường lối kinh tế mới của nhà nước Việt Nam, thành phố này sẽ phát triển mạnh mẽ", ông đánh giá.

Nhưng bên cạnh đó còn có những nốt trầm.

Những năm sau 1975, thành phố đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tình trạng khan hiếm hàng hóa.

Nửa cuối thập niên 1970, các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được triển khai, trong đó nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh tư nhân, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân người Hoa vốn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của Chợ Lớn, bị quốc hữu hóa hoặc buộc phải ngừng hoạt động. Nhiều gia đình đô thị Sài Gòn bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Hàng chục ngàn người bỏ xứ ra đi.

Cùng với căng thẳng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và làn sóng nạn kiều, người Hoa rời Việt Nam vào cuối những năm 1970, hoạt động kinh tế bị rối loạn, sụp đổ.

Gần đây hơn, đại dịch Covid-19 là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố.

Là tâm dịch lớn nhất cả nước vào năm 2021, Thành phố Hồ Chí Minh chịu tổn thất nặng nề về kinh tế và con người. Theo số liệu từ Bộ Y tế Việt Nam, thành phố là nơi có số ca tử vong do Covid-19 cao nhất cả nước, với 19.985 người. Con số thực tế được cho là cao hơn thế.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Dũng cho rằng một nốt trầm về mặt văn hóa sẽ có tác động sâu xa là việc "cả một nền báo chí lẫy lừng của Sài Gòn" bị dẹp bỏ.

Ngày 20/6, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh công bố quyết định thành lập Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở sắp xếp lại 11 cơ quan báo chí của thành phố.

Từ ngày 1/7, tám cơ quan báo chí, gồm báo Người Lao ĐộngPhụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh cùng năm tạp chí, chấm dứt hoạt động độc lập.

Ba đơn vị được tổ chức lại, gồm báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ (bản điện tử) và Đài Phát thanh - Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV), sẽ trực thuộc cơ quan mới cùng với Trung tâm Đào tạo và Truyền thông.

"Tôi nghĩ đây là một thiệt hại rất lớn về đời sống tinh thần. Lịch sử báo chí khi viết về giai đoạn này phải coi đây là một sự kiện đau đớn không thể quên được", nhà ngôn ngữ học này cho hay.

Vì sao cái tên Sài Gòn vẫn còn đó ?

Nửa thế kỷ sau khi mất tên với tư cách là một đơn vị hành chính, cái tên Sài Gòn vẫn chưa biến mất khỏi đời sống.

Sài Gòn hiện diện trong hàng loạt thương hiệu : Bia Sài Gòn, Saigon Co.op, Saigon Centre, SaigonTourist... Nhiều doanh nghiệp thành lập sau năm 1975 vẫn lựa chọn "Sài Gòn" làm thương hiệu vì giá trị nhận diện và tính biểu tượng.

Trên mạng xã hội, nhiều người vẫn giới thiệu mình là "người Sài Gòn". Trong văn chương, âm nhạc, báo chí, tên gọi này vẫn được sử dụng như một biểu tượng của sự phóng khoáng, cởi mở và nhịp sống sôi động.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Dũng nói với BBC rằng cái tên Sài Gòn đã tồn tại mấy trăm năm, vừa là vấn đề lịch sử, vừa là vấn đề văn hóa, tâm lí xã hội.

"Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường", ông nêu quan điểm.

Đối với nhà thơ Hoàng Hưng, người đã sống ở thành phố này gần 50 năm, cái tên Thành phố Hồ Chí Minh không cho ông những cảm xúc như tên Sài Gòn, "có lẽ vì nó chỉ mang ý nghĩa chính trị, hành chính đơn thuần, không gợi lên cái gì tha thiết, gắn bó".

"Bản thân tôi là người gốc Hà Nội mấy đời, bà nội tôi là người góp phần xây dựng nên những đường phố ở Hà Nội những năm 1920, nhưng cũng tự hào là đã trở thành 'người Sài Gòn' với thời gian dài nhất của đời mình", ông nói thêm.

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng lưu ý rằng đa số người dân đang sống tại thành phố này là cư dân sau năm 1975, ngay trong lòng chế độ mới, nên cách nhìn của họ sẽ khác ông cha họ.

"Cho nên đây là câu chuyện của tương lai, sự hòa hợp, hòa giải dân tộc phụ thuộc rất lớn vào cách hành xử của chính quyền. Họ phải cho thấy tính chính danh của mình ngày càng được đắp bồi chứ không phải là hao mòn", nhà nghiên cứu này kết luận.

Nguồn : BBC, 30/06/2026